Các Thế Nghiêm Tập Căn Bản

Thứ ba - 23/08/2011 13:19
Các Thế Nghiêm Tập Căn Bản

Sau khi tham gia khóa huấn luyện Huynh Trưởng cấp II tại Giáo Xứ Suối Mơ, Đoàn Thiếu Nhi đã thống nhất đi theo chương trình nghiêm tập của Liên Đoàn An rê Phú Yên. 
 
Để góp phần vào việc đoàn ngũ hóa thanh thiếu niên trở thành những thành viên của phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam, Nghiêm tập là một trong những bài khóa khá quan trọng mà phong trào đã áp dụng phối hợp chung với các bài khóa khác trong lãnh vực tự nhiên như : Phương pháp hàng đội, nghệ thuật chỉ huy, thành lập đoàn. . . . để huấn luyện đoàn sinh

Nghiêm tập còn là điều kiện rèn luyện tư cách, tác phong, tập cho người Thiếu Nhi tinh thần kỷ luật, rèn luyện đức tính khiêm nhường, vâng lời, tuân phục, giúp cho việc điều động hoặc tập họp đoàn sinh một cách nhanh chóng. Nhờ nghiêm tập, người Thiếu Nhi sẽ thấm nhuần tinh thần kỷ luật tập thể, có hàng ngũ, ý thức trách nhiệm, đồng thời thấy được vẻ đẹp và sức mạnh của sự đồng nhất trong một đoàn thể. Muốn được như thế, nghiêm tập cần phải thống nhất với nhau từ các cấp, được làm đi làm lại cho quen và không được sai phạm các qui định đã được đề ra.

A- TỔNG QUÁT VỀ NGHIÊM TẬP :
Nghiêm : Nghiêm minh, nghiêm túc, uy nghi, chính xác, kỷ luật.
Tập : Tập tục, tập quán, thói quen, thực tập, tập luyện, cử chỉ.
Nghiêm tập là những đội hình, cử chỉ được thực hiện theo một động tác đồng bộ, liên kết giữa người điều khiển và người được điều khiển mà qua đó các hiệu lệnh được thi hành dứt khoát, gọn gàng trật tự, nhanh chóng và dễ hiểu. Đạt hiệu quả kỷ luật cao.
B- CÁC QUI ĐỊNH VỀ NGHIÊM TẬP :
Để chỉ huy giỏi, điều hành vững và tăng uy tín, Trưởng phải hiểu, nắm vững các qui định và thực hành về nghiêm tập như sau:
Người điều khiển :
Luôn đứng về tư thế nghiêm khi điều khiển trừ tư thế “ Nghỉ”.
Khẩu lệnh, âm lệnh và còi lệnh phải dứt khoát, rõ ràng.
Nắm vững các thao tác quy định về nghiêm tập.
Người được điều khiển :
Sẵn sàng thực hiện các yêu cầu trong trật tự – im lặng và nhanh nhẹn.
Nghiêm túc trong đội hình.
Nắm vững cách thực hiện đội hình, tư thế.


I. CÁCH RA LỆNH :
Để ban hành lệnh nghiêm tập, Trưởng ban dự lệnh trước rồi mới ra động lệnh sau. Thí dụ :
Chuẩn bị chào . . . (dự lệnh) Đằng sau . . . 
Chào. (động lệnh) Quay . . . . 
Khi ra lệnh “IM LẶNG”,
Trưởng hô : THIẾU NHI (Ấu Nhi, Nghĩa Sĩ . . . Ngoan . . . ) 
Tất cả đáp : HY SINH ( đứng dậy về tư thế nghiêm và tuyệt đối im lặng ngay, sau đó không cần phải hô nghiêm nữa).

II. CÁC HIỆU LỆNH :
Hiệu lệnh là dùng một hình thức nào đó để ban lệnh. Phong Trào sử dụng những hiệu lệnh sau đây :
1- Khẩu lệnh : Dùng tiếng hô bằng miệng để ra lệnh.
2- Thủ lệnh : Dùng tay để ra hiệu.
3- Âm lệnh : Dùng âm thanh của còi, tù và, trống….
4- Cờ lệnh : Dùng cờ để ra lệnh.
Trong thực hành, các hiệu lệnh trên được phối hợp trước sau hoặc cùng một lúc để ra lệnh tập họp đội hình. 
Khi tập họp các Trưởng sử dụng các hiệu còi sau đây : (tùy trường hợp

* Chuẩn bị : (Một hiệu còi dài)
* Tập họp chung : — , °°°° (TH)
* Nghỉ : — (T)
* Nghiêm : ° ( E)
* Nhanh chân lên : °° ,°°, °° (I I I)
* Ấu Nhi : °—, —° (AN)
* Thiếu Nhi : —, —° (TN)
* Nghĩa Sĩ : — °,°°° (NS)
* Đoàn Sinh (chung 3 Ngành) : —°°, °°° (ĐS)
* Huynh Trưởng : °°°°, — (HT)
* Đội Trưởng : —°°, — (ĐT)
* Cấp cứu : °°°, — — —, °°° (SOS)

III. CÁC KHẨU HIỆU :
Khẩu hiệu là những từ ngắn gọn khi hô lên có tác dụng thôi thúc hành động của nhiều người. Các khẩu hiệu Phong Trào sử dụng còn là châm ngôn của ngành như :
Ấu Nhi : - Ngoan.
Thiếu Nhi : - Hy sinh(Chung cho các Ngành)
Nghĩa sĩ : - Chinh phục.
Chiên Con : - Hiền lành.
Hiệp sĩ : - Dấn thân.
Đội Trưởng : - Gương mẫu.
Huynh Trưởng : - Phụng sự.
Trợ tá : - Phục vụ

Lưu ý :Mỗi khẩu hiệu chỉ hô 1 lần.

IV. CÁC THẾ ĐỨNG :

1- Thế đứng nghỉ không cầm cờ :
Chân trái đưa sang trái một bước bằng vai, Bàn tay trái nắm bàn tay phải và để ở sau ngang thắt lưng, vai thẳng,lưng thẳng, mắt nhìn thẳng.

2- Thế đứng nghỉ có cầm cờ :
Chân trái đưa sang trái một bước bằng vai, bàn tay trái nắm lại để sau lưng ngang thắt lưng. Tay phải cầm cờ đưa ra phía trước xéo sang bên phải một chút (khoảng 30 độ). Cán cờ chấm đất ngay đầu ngón chân cái của chân phải. vai thẳng,lưng thẳng, mắt nhìn thẳng.

3- Thế đứng nghiêm không cầm cờ :
Đứng thẳng người, hai gót chân sát vào nhau và hai bàn chân mở ra một góc 45 độ, hai tay xuôi tự nhiên theo thân người. Vai thẳng, lưng thẳng, mắt nhìn thẳng.

4- Thế đứng nghiêm có cầm cờ :
Đứng thẳng người, kéo cờ sát vào người. Tay phải cầm cờ ngang thắt lưng, hai gót chân sát vào nhau và hai bàn chân mở ra một góc 45 độ, tay không cầm cờ xuôi tự nhiên theo thân người. Vai thẳng, lưng thẳng, mắt nhìn thẳng.

V. CÁCH ĐỔI THẾ :
Trưởng có thể đổi từ thế nghỉ sang thế nghiêm hoặc ngược lại bằng một trong những cách sau đây :

1- Dùng khẩu lệnh :
a. Đoàn sinh đang đứng ở tư thế nghỉ, hoặc đang ngồi, Trưởng hô lên khẩu hiệu Ngành, tên Đội, tên Sa mạc….
b. Tất cả đoàn sinh hô câu đáp đồng thời đứng về tư thế nghiêm. ( Không cần hô lại : nghỉ, nghiêm )
Thí dụ : Thiếu nhi : (đang ở tư thế nghỉ) Đáp : Hy sinh. (về tư thế nghiêm)

2- Dùng thủ lệnh :
a) Dùng thủ lệnh nghỉ :
Đoàn sinh đang đứng tư thế nghiêm để chờ lệnh nghỉ
Tay phải Trưởng nắm lại, giơ cao vòng trên đỉnh đầu, lòng bàn tay hướng về phía trước mặt. Bàn tay trái cũng nắm lại để đàng sau ngang thắt lưng.
Chân trái đưa sang trái một bước bằng vai, lưng thẳng mắt nhìn thẳng

b) Dùng thủ lệnh nghiêm :
Đoàn sinh đang đứng tư thế nghỉ để chờ lệnh nghiêm.
Trưởng làm 3 động tác như ở thủ lệnh nghỉ,
Tay phải Trưởng phất xuống sát thẳng hông bên phải, đồng thời chân trái rút về tư thế nghiêm.
Hai tay duỗi thẳng tự nhiên hai bên hông. lưng thẳng mắt nhìn thẳng.

3- Dùng âm lệnh :
Dùng còi, tù và . . . thổi dài ( Tè :  ) : Nghỉ.
Tiếng thổi ngắn . . . ( tích : °) : Nghiêm.

4- Dùng cờ lệnh :
a) Dùng cờ lệnh nghỉ :
Đoàn sinh đang đứng tư thế nghiêm chờ lệnh nghỉ.
Trưởng đưa chân trái sang ngang phía trái một bước, tay trái nắm lại để đàng sau ngang thắt lưng. Tay phải cầm cờ đưa ra phía trước, xéo sang bên phải khoảng 30 độ. Vai thẳng, lưng thẳng, mắt nhìn thẳng.
Cán cờ chấm đất ngay đầu ngón chân cái của chân phải.

b) Dùng cờ lệnh nghiêm :
Đoàn sinh đang đứng tư thế nghỉ chờ lệnh nghiêm.
Trưởng làm 3 động tác như cờ lệnh nghỉ.
Kéo cờ sát vào người, tay cầm cờ để xuôi tự nhiên.
Đồng thời rút chân trái về thế nghiêm, tay trái để xuôi tự nhiên bên hông. Vai thẳng, lưng thẳng, mắt nhìn thẳng.
VI. CÁCH ĐỨNG VÀ NGỒI :
1- Tư thế ngồi :
Khi đoàn sinh đang đứng, muốn cho ngồi xuống :
Trưởng hô : Về Đất.
Đoàn sinh đáp : Hứa.
Đồng thời ngồi ngay xuống theo trình tự như sau :
Chân phải bắt chéo trước chân trái và ngồi xuống.
Đối với nữ : khi mặc jupe : hai chân sát nhau, quỳ xuống và gấp chân sang trái.
Nếu có cờ : gác cán cờ trên vai phải, lá cờ nằm phía sau lưng.
2- Tư thế đứng :
Khi đoàn sinh đang ngồi, muốn cho đứng lên :
Trưởng hô : Hướng tâm.
Đoàn sinh đáp : Lên.
Đồng thời đứng dậy ngay và nhấc chân trái ra, đặt gót sát gót bàn chân phải ở tư thế nghiêm . (Không cần hô lại nghỉ, nghiêm )
VII. CÁCH CHÀO :
Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể chỉ có một cách chào duy nhất áp dụng cho tất cả thành viên trong Phong Trào từ một em Khai tâm đến một vị lãnh đạo cấp cao nhất được thực hiện như sau :
1- Khi không cầm cờ :
Đứng ở tư thế nghiêm.
Đưa bàn tay phải lên ngang vai, bàn tay mở ra, bốn ngón tay khép thẳng lại, (nói lên tinh thần hy sinh – cầu nguyện – rước lễ - làm việc tông đồ luôn được kết nối là một) ngón tay cái ép vào giữa lòng bàn tay.(thể hiện người TNTT luôn tuân giữ 4 điều trên) Lòng bàn tay hướng thẳng về phía trước.( Tự hào mình là TNTT)
Cánh tay trong hợp với thân mình một góc 30 độ.
Cánh tay ngoài song song với thân mình.

2- Khi cầm cờ :
Đứng ở tư thế nghiêm.
Hất nhẹ cán cờ sang bên trái, bàn tay trái đón lấy cán cờ giữ ngang thắt lưng. Chân cờ vẫn để ngay đầu ngón cái chân phải.
Bàn tay phải đưa lên chào như khi không cầm cờ.
Vai thẳng, lưng thẳng, mắt nhìn thẳng.

3- Đoàn sinh sẽ phải chào khi :
Đoàn sinh gặp nhau.
Trong nghi thức chào cờ.
Khi chào đón cấp trên hoặc quan khách.
Khi trình diện.
Khi chia tay.
Lưu ý : Khi chào cấp trên, phải đợi cấp trên chào lại xong mới hạ tay xuống. Vẫn đứng thế nghiêm cho đến khi có lệnh nghỉ.
VIII. CÁCH DI HÀNH :
Trước khi di hành, Trưởng luôn cho đoàn sinh đứng ở tư thế nghiêm.
Hô khẩu lệnh : “Đàng trước . . . . . . Bước.”
Khi di chuyển mà có cầm cờ thì :
Kẹp cán cờ dưới nách.
Tay phải giữ cán cờ sát người và lá cờ ở phía sau lưng.
Bàn tay phải cầm xuôi tự nhiên theo cán cờ 
IX. CÁCH GIẢI TÁN HÀNG :
Trước khi giải tán, Trưởng luôn cho Đoàn sinh đứng ở thế nghiêm.
Khi ra lệnh giải tán : 
Trưởng để hai tay chéo trước ngực,
- Hai bàn tay nắm lại, lòng bàn tay úp về phía ngực nhưng không sát ngực.
Trưởng hô khẩu lệnh: “Giải tán”, đồng thời hai tay vung ra.
Đoàn sinh đáp lại: “Vui”, đồng thời vung cao hai tay, nhảy lên và giải tán hàng ngay lập tức.

 
X. CÁCH ĐỔI THẾ QUAY :
Trước khi chuyển sang các động tác quay, Trưởng luôn cho đoàn sinh đứng ở tư thế nghiêm.
1- Quay bên phải :
Trưởng dùng khẩu lệnh hô: “Bên phải . . . . . . . . . Quay
Hoặc Trưởng dùng cờ lệnh : tay phải cầm cờ đưa thẳng cánh ra phía trước hợp với thân mình một góc 90 độ và hất về phía bên phải của đoàn sinh (hất về phía tay trái của Trưởng)
Khi nhận lệnh quay, đoàn sinh lấy gót chân phải và các đầu ngón chân trái làm trụ.
Xoay về bên phải một góc 90 độ.
Nhấc chân trái đặt gót sát gót bàn chân phải đứng lại tư thế nghiêm.

2- Quay bên trái :
Trưởng dùng khẩu lệnh hô : “Bên trái . . . . . . . . Quay
Hoặc Trưởng dùng cờ lệnh : tay phải cầm cờ đưa thẳng cánh ra phía trước hợp với thân mình một góc 90 độ và hất về phía bên trái của đoàn sinh (hất về phía tay phải của Trưởng)
Khi nhận lệnh quay, đoàn sinh lấy gót chân trái và các đầu ngón chân phải làm trụ.
Xoay về bên trái một góc 90 độ.
Nhấc chân phải đặt gót sát gót bàn chân trái đứng lại tư thế nghiêm.

3- Quay đàng sau : ( chỉ dùng khẩu lệnh)
Trưởng dùng khẩu lệnh hô : “Đàng sau . . . . . . . quay
Khi nghe dự lệnh :”Đàng sau”, đoàn sinh nhấc bàn chân phải lên đưa ra đàng sau.
Đặt mũi bàn chân phải đứng chấm đất cách xa gót chân trái một bàn chân, hình thành một góc 90 độ.
Khi nghe động lệnh : “Quay”, đoàn sinh lấy gót chân trái làm trụ, mũi chân phải quay theo về phía sau theo hướng tay phải một góc 180 độ (Theo chiều kim đồng hồ ) hai tay vẫn xuôi và sát thân người, chân tự động đứng về tư thế nghiêm.
Nếu cầm cờ, tay vẫn giữ cờ xuôi sát thân người khi quay.
4- Bước chuyển vị trí: (chỉ dùng khẩu lệnh)
Trước khi ra lệnh chuyển bước, Trưởng luôn cho đoàn sinh đứng ở thế nghiêm.
a) Bước đàng trước, sau : Trưởng hô : Đàng trước, sau … Bước.
c) Bước qua phải, trái : Trưởng hô : Bên phải, trái … Bước.
e) Bước đều : Trưởng hô : Bước đều … Bước
g) Đứng lại : Trưởng hô : Đứng lại … Đứng.
h) Chỉnh hàng : Khi phải chỉnh hàng lúc trình diện hoặc tập họp, Đội Trưởng Đội Trực lấy Trưởng Trực làm chuẩn mà chuyển vị trí.
Thí dụ : “Bên phải Trưởng Trực một (hay 2,3 tùy nghibước . . . bước”. 
XI. KỶ LUẬT VÀ CÁC ĐỘI HÌNH CĂN BẢN :
A- KỶ LUẬT KHI TẬP HỌP :
Thiếu Nhi Thánh Thể luôn tuân thủ kỷ luật khi tập họp gồm : 
1) Đối với đoàn sinh :
a) Trước khi tập họp :
Khi nghe lệnh chuẩn bị tập họp phải ngưng ngay mọi công việc đang làm.
Đội Trưởng tập họp Đội lại, kiểm điểm sĩ số, chỉnh tề y phục và chờ lệnh.
b) Đang khi tập họp :
Khi nghe lệnh tập họp, Đội Trưởng hô tên Đội, các đội viên đáp lại khẩu hiệu Đội (một lần mà thôi).
Trong các đội hình (ngoại trừ hàng dọc), các Đội Trưởng luôn dẫn Đội chạy vòng quanh Trưởng điều khiển một vòng ngược chiều kim đồng hồ, rồi vào vị trí tập họp theo thủ hiệu đội hình của Trưởng điều khiển .
Nhanh nhẹn, trật tự và im lặng (trừ khi tập họp hình tròn được ca hát lúc di động theo yêu cầu của Trưởng điều khiển)
Đội Trưởng luôn đi đầu, Đội Phó luôn đứng cuối hàng.
Đội Trưởng Đội Trực (thường là đội trưởng đội I nếu không phân đội trực) có nhiệm vụ điều chỉnh các Đội đứng cho đúng hàng.
Đội trưởng đội I luôn so hàng đội đứng bên trái Trưởng điều khiển. 
Sau khi đã ổn định đội hình, Đội Trưởng Đội Trực hô chào Trưởng Điều Khiển : “Chuẩn bị chào . . . Chào”, tất cả cùng chào .
c) Sau khi tập họp:
Tất cả các Đội đứng nghiêm chờ lệnh.
2) Đối với Trưởng :
a) Trước khi tập họp :
Trưởng dùng âm lệnh để báo hiệu tập họp bằng một hồi dài chuẩn bị. Sau 30 giây phát âm lệnh đối tượng tập họp kèm thủ hiệu đội hình.
b) Đang khi tập họp :
Trong khi tập họp Trưởng sử dụng cả thủ lệnh và âm lệnh để điều khiển.
Trưởng điều khiển luôn đứng ở thế nghiêm khi ra lệnh tập họp.
Khi các đội đã đến đủ hoặc quá bán, Trưởng điều khiển có thể hạ tay.
c) Sau khi tập họp:
Sau khi chỉnh hàng, nếu thấy chưa hoàn chỉnh, Trưởng điều khiển nêu rõ khuyết điểm để sửa sai.
B- CÁCH SO HÀNG ĐỘI :
Trước khi đến vị trí tập họp chung, Đội Trưởng phải so hàng Đội để ổn định hàng ngũ (trừ tập họp hình tròn và bán nguyệt)
Đội Trưởng đứng ở thế nghiêm ra khẩu lệnh so hàng đội :”Phêrô Tự, (hàng dọc) nhìn trước . . . . . Thẳng
Cùng lúc với động lệnh “Thẳng”, Khi có cầm cờ : Đội Trưởng đưa tay phải cầm cờ nâng lên trước mặt, cánh tay duỗi thẳng hợp với thân mình thành một góc 90 độ.
Khi không cầm cờ : Đội Trưởng đưa thẳng cánh tay phải về phía trước mặt và hợp với thân mình một góc 90 độ. Bàn tay xoè ra, năm ngón khép lại, lòng bàn tay hướng về phía trái.
Nếu thấy chưa thẳng hàng, Đội Trưởng sẽ dùng cờ hiệu hay thủ hiệu bằng cách đưa qua đưa lại để đội viên chỉnh lại hàng ngũ.
Trong khi so hàng, người đội viên đứng đầu đưa thẳng cánh tay phải lên cao, bàn tay mở ra, các ngón khép lại, lòng bàn tay hướng về phía trái. Còn các đội viên khác đưa tay phải chạm lên vai phải người trước mặt. 
Khi thấy hàng đã thẳng, Đội Trưởng hô “Phất”; đồng thời hạ cờ hoặc bỏ tay xuống. Các đội viên bỏ tay xuống đứng ở tư thế nghiêm.
Đội Trưởng quay lại cùng đội viên chờ lệnh hoặc hô khẩu lệnh chào khi trình diện

C- CÁC ĐỘI HÌNH
Thiếu Nhi Thánh Thể sử dụng 5 đội hình căn bản trong sinh hoạt của mình là : hàng dọc, hình chữ U, hình tròn, hình bán nguyệt, hàng ngang. Đội hình rẻ quạt rất ít khi sử dụng (thường sử dụng trong các sa mạc hoặc trại ). 
1- HÀNG DỌC khi tập họp chung để thông báo, nhằc nhở, điểm danh, dạy khoá, nghi thức chào cờ, dự các nghi lễ phụng vụ …v.v…
a) Một hàng dọc nhiều đội : ( thường áp dụng lập hàng rào danh dự đón quan khách)
Thủ hiệu của người điều khiển : ( thường là đội trưởng áp dụng khi so hàng đội)
Người điều khiển đưa thẳng cánh tay phải về phía trước mặt hợp với thân mình một góc 90 độ .
Bàn tay mở ra, năm ngón tay khép lại, lòng bàn tay hướng về phía trái. 
Tay trái để xuôi theo thân mình ở thế nghiêm.

Cách di hành của các Đội :
Đội Trực chạy thẳng tới trước mặt Trưởng điều khiển cách ba bước (hoặc 6 bước) đứng lại theo vị trí thứ tự Đội. Đội trưởng đội trực cầm cờ đưa thẳng lên trên, cán cờ song song vời thân mình (nếu có cờ) hoặc tay phải đưa thẳng lên, bàn tay mở ra , năm ngón tay khép lại, lòng bàn tay hướng về phía bên trái.
Các Đội khác đứng tiếp theo sau Đội Trực, lần lượt so hàng Đội thành một hàng dọc trước mặt Trưởng.
Ổn định xong hàng ngũ, Đội Trưởng Đội Trực chờ người điều khiển bỏ tay xuống sẽ hô khẩu hiệu chào Trưởng. Tất cả cùng chào.
Đội Trưởng chờ Trưởng chào lại xong, hô “phất” , tất cả bỏ tay xuống đứng ở thế nghiêm chờ lệnh .

b) Nhiều hàng dọc :
· Thủ hiệu của người điều khiển : 
Trưởng Điều Khiển đưa thẳng cánh tay phải từ dưới lên ra phía trước mặt, cánh tay hợp với thân mình một góc 90 độ.
Bàn tay mở ra, năm ngón tay khép lại, Lòng bàn tay hướng về bên trái ( như 1 hàng dọc ). Tay trái xuôi theo thân mình ở tư thế nghiêm.
· Cách di hành của các Đội :
Các Đội chạy thẳng tới trước mặt Trưởng Điều Khiển, đứng vào vị trí thứ tự của Đội mình (từ trái sang phải đối diện Trưởng).
Đội Trực đứng phía ngoài cùng phía bên trái của Trưởng Điều Khiển làm chuẩn. Cách Trưởng Điều Khiển từ 3 đến 6 bước (tùy theo địa thế và số đội ít hay nhiều, càng ít đứng càng gần) các đội khác theo thứ tự nối tiếp cách nhau một cánh tay
Các đội trưởng dùng cờ hiệu so hàng ( không dùng khẩu hiệu ) khi thấy đội của mình đã ngay ngắn, các đội trưởng cho đội đứng ở tư thế nghiêm. Đội trưởng hướng về đội viên.
Đội trưởng đội trực ( đội 1) sau khi nhìn thấy đội trưởng đội cuối cùng so hàng xong, sẽ bắt đầu hô khẩu hiệu đội của mình, chờ đội viên đáp lại xong, đội trưởng tự động quay lên hướng về người điều khiển.
Tuần tự, đến đội 2, 3. . . đội cuối cùng.
Sau khi đội trưởng đội cuối cùng hô xong và quay lên, đội trưởng đội trực sẽ chỉnh hàng lần cuối, ổn định xong hàng ngũ, Đội Trưởng Đội Trực hô chào Trưởng. 
Chờ Trưởng Điều Khiển chào lại, đội trưởng đội trực hô “phất” tất cả bỏ tay xuống đứng ở tư thế nghiêm chờ lệnh.

Lưu ý : không dùng khẩu hiệu đội để so hàng khi tập họp chung

Trưởng Điều Khiển so hàng trực tiếp :
Khi vì một lý do nào đó trong đội hình nhiều hàng dọc bị xáo trộn hoặc mất trật tự, hoặc để so lại đội hình, trưởng điều khiển sẽ kết hợp giữa còi hiệu ( một hiệu còi Te dài) và thủ hiệu (hàng dọc) ra phía trước
Đội trưởng đội trực cầm cờ đưa thẳng lên trên cán cờ song song với thân mình (nếu có cờ) hoặc tay phải đưa thẳng lên, bàn tay mở ra , năm ngón tay khép lại, lòng bàn tay hướng về phía bên trái.
Các Đội trưởng các đội còn lại đưa tay phải đặt lên vai trái đội trưởng bên phải, cánh tay thẳng, các đội viên đặt tay phải lên vai phải người phía trước, mắt nhìn thẳng vào gáy người phía trước sao cho thẳng hàng (hàng ngang cũng như hàng dọc)chờ lệnh tiếp tục.
Sau khi đội hình đã thẳng, trưởng điều khiển kết thúc bằng hiệu còi “Tích” đồng thời bỏ tay phải xuống. tất cả sẽ bỏ tay xuống đứng về tư thế nghiêm
Đội trực không cần phải hô chào trưởng

2- HÌNH CHỮ U Thường được sử dụng trong các Nghi Thức khai mạc và bế mạc, lễ chào cờ, lễ phát thưởng, học khóa . . . . 
Thủ hiệu của Trưởng :
Trưởng Điều Khiển đưa tay phải ngang vai. Cánh tay trong hợp với thân mình một góc 90 độ, cánh tay ngoài song song với thân mình. Bàn tay phải nắm lại, lòng bàn tay quay vào phía đầu của Trưởng.
Tay trái để xuôi theo thân mình ở tư thế nghiêm.

Cách di hành của các Đội :
Các đội trưởng tập họp đội sẵn sàng khi nghe hiệu còi chuẩn bị.
Đội Trực luôn dẫn đầu, sau đó tới các Đội theo thứ tự chạy một vòng quanh Trưởng ngược chiều kim đồng hồ, xếp ngay thành hình chữ U đều đặn trước mặt Trưởng Điều Khiển. Đội trưởng đội trực và đội phó đội cuối cùng thẳng hàng ngang với Trưởng Điều Khiển.
Các đội trưởng dùng cờ hiệu so hàng ( không dùng khẩu hiệu ) khi thấy đội của mình đã ngay ngắn, các đội trưởng cho đội đứng ở tư thế nghiêm. Đội trưởng hướng về đội viên.
Đội trưởng đội trực ( đội 1) sau khi nhìn thấy đội trưởng đội cuối cùng so hàng xong, sẽ bắt đầu hô khẩu hiệu đội của mình, chờ đội viên đáp lại xong, đội trưởng dùng cờ phất từ trái qua phải cho đội viện quay vào trong đội hình
Ổn định xong hàng ngũ, Đội Trưởng Đội Trực hô chào Trưởng. 
Chờ Trưởng Điều Khiển chào lại, đội trưởng đội trực hô “phất” tất cả bỏ tay xuống đứng ở tư thế nghiêm chờ lệnh.

3- HÌNH TRÒN Thường được dùng trong các sinh hoạt vui, họp Đội, hội thảo nhóm . . .
Thủ hiệu của Trưởng :
Trưởng Điều Khiển đứng ở tư thế nghiêm đưa hai tay vòng trên đỉnh đầu, đừng cao quá và cũng không được sát đầu : hai bàn tay mở ra, năm ngón tay khép lại, lòng bàn tay úp xuống, hai đầu ngón tay giữa chạm nhau. ( thường là chấm ngón cái đụng đầu làm chuẩn)
Khi các đội đã vào vòng tròn như ý, Trưởng điều khiển mới bỏ tay xuống, hoặc dùng còi hiệu thổi “Tíchđể ngưng vòng chạy. 
Nếu Trưởng điều khiển muốn đội viên chào, Trưởng điều khiển bước lui vào vòng tròn, đứng về tư thế nghiêm.
Cách di hành của các Đội :
Với đội hình vòng tròn, các đội không cần theo thứ tự đội, đội nào đã tập họp đủ là có thể tham gia vào đội hình,chạy vòng quanh Trưởng theo hướng ngược chiều kim đồng hồ,
Đang khi chạy, Trưởng điều khiển có thể mời Đội Trực hoặc các đội khác bắt một vài bài hát để tạo bầu khí vui tươi, hăng hái, sôi động. 
Lưu ý : nếu không có lệnh của người điều khiển, không được tự động cất bài hát bất kỳ.
Các Đội vừa chạy vừa chỉnh vòng tròn sao cho đồng tâm, quan sát thủ hiệu hoặc nghe còi hiệu của Trưởng điều khiển. Khi Trưởng điều khiển bỏ tay xuống hoặc còi hiệu ( tích : °) thì các đội đang chạy phải đứng lại ngay tại chỗ, tự động quay mặt vào giữa đứng ở tư thế nghiêm.
Ổn định xong hàng ngũ, Đội Trưởng Đội Trực hô chào Trưởng. 
Chờ Trưởng Điều Khiển chào lại, đội trưởng đội trực hô “phất” tất cả bỏ tay xuống đứng ở tư thế nghiêm chờ lệnh.
* Tham Khảo :Thông thường vòng tròn thường sử dụng cho các sinh hoạt, do đó nếu đã cất bài hát vui thì không nhất thiết phải dùng nghi thức chào

4- HÌNH BÁN NGUYỆT (nửa vòng tròn): dùng trong các sinh hoạt hội diễn, thảo luận, dạy khóa …
Thủ hiệu của Trưởng :
Trưởng Điều Khiển giơ tay phải vòng trên đầu đừng cao quá và cũng không được sát đầu : bàn tay mở ra, năm ngón khép lại, lòng bàn tay úp xuống. Tay trái xuôi theo thân mình ở tư thế nghiêm.
Cách di hành của các Đội :
Đội Trực chạy dẫn đầu, các Đội thứ tự chạy theo sau vòng quanh Trưởng điều khiển theo hướng ngược chiều kim đồng hồ.
Đội Trưởng Đội Trực đứng lại khi tới ngang phía tay trái Trưởng. Các Đội sắp xếp sao cho Đội Phó của Đội cuối cùng đứng ngang phía bên tay phải Trưởng và tạo thành nửa vòng tròn có tâm là Trưởng điều khiển.( giống đội hình chữ U nhưng không so hàng )
Để hình bán nguyệt được đều, khi dừng lại, các đội viên tự động quay mặt vào giữa, nắm tay hai người bên cạnh so hàng cho tới khi hàng cong đều thì buông tay và đứng thế nghiêm.
Ổn định xong hàng ngũ, Đội Trưởng Đội Trực hô chào Trưởng. 
Chờ Trưởng Điều Khiển chào lại, đội trưởng đội trực hô “phất” tất cả bỏ tay xuống đứng ở tư thế nghiêm chờ lệnh.

5- HÀNG NGANG dùng để trình diện, dàn hàng làm công tác vệ sinh trong sa mạc, ra chỉ thị chung cho các đội viên . . a) Một hàng ngang :
Thủ hiệu của Trưởng : 
Trưởng Điều Khiển đưa tay phải thẳng ngang vai phải, bàn tay nắm lại, lòng bàn tay hướng xuống đất. Tay trái xuôi theo thân mình đứng ở tư thế nghiêm.
Cách di hành của các Đội : ( Nhiều đội )
Đội Trực chạy dẫn đầu, các Đội theo thứ tự chạy theo sau vòng quanh Trưởng Điều Khiển theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, tới trước mặt Trưởng Điều Khiển từ ba đến sáu bước, sắp thành hàng ngang.
Đội Trưởng Đội Trực chạy chậm lại và căn sao cho Trưởng Điều Khiển luôn đứng ở giữa hàng. Các đội khác lần lượt đứng kế tiếp lấy Đội Trưởng đội trực làm chuẩn, đứng cách nhau một cánh tay. Khi thấy hàng của các đội đã cân, đội trưởng đội trực so hàng chung, rồi dùng cờ lệnh hoặc thủ lệnh cho các đội quay về phía Trưởng Điều Khiển. 
Ổn định xong hàng ngũ, Đội Trưởng Đội Trực hô chào Trưởng. 
Chờ Trưởng Điều Khiển chào lại, đội trưởng đội trực hô “phất” tất cả bỏ tay xuống đứng ở tư thế nghiêm chờ lệnh.
Cách di hành của một Đội : ( trình diện )
Đội Trưởng chạy dẫn đầu, các Đội viên chạy theo sau vòng quanh Trưởng Điều Khiển ngược chiều kim đồng hồ. Tới trước mặt Trưởng Điều Khiển cách sáu bước, thành một hàng ngang.
Đội Trưởng đứng lại khi thấy Trưởng Điều Khiển đứng giữa đội. Đội Trưởng so hàng đội (bằng thủ hiệu hoặc cờ hiệu, không dùng khẩu hiệu) so hàng xong dùng thủ hiệu hoặc cờ hiệu cho quay về phía Trưởng Điều Khiển và đứng về tư thế nghiêm.
Đội Trưởng hô chào Trưởng. 
Chờ Trưởng chào lại, đội trưởng hô “phất” tất cả bỏ tay xuống đứng ở tư thế nghiêm chờ lệnh.

b) Nhiều hàng ngang :
Thủ hiệu của Trưởng : 
Trưởng Điều Khiển đưa tay phải thẳng ngang vai phải, hình thành một góc 90 độ với thân mình, bàn tay mở ra, các ngón tay khép lại, lòng bàn tay úp xuống đất. Tay trái xuôi theo thân mình ở tư thế nghiêm.
Cách di hành của các Đội :
Đội Trực chạy dẫn đầu, các Đội thứ tự chạy theo sau vòng quanh Trưởng Điều Khiển ngược chiều kim đồng hồ. Tới trước mặt Trưởng Điều Khiển cách sáu bước, sắp thành một hàng ngang.
Đội Trưởng Đội Trực đứng lại khi thấy Trưởng Điều Khiển đứng giữa hàng. Khi hàng đội đã cân thì Đội Trưởng Đội Trực so hàng của mình và các Đội khác thứ tự so hàng tiếp theo. Đội nào so hàng xong tự động cho quay về phía Trưởng Điều Khiển và đứng vào tư thế nghiêm.
Ổn định xong hàng ngũ, Đội Trưởng Đội Trực hô chào Trưởng. 
Chờ Trưởng Điều Khiển chào lại, đội trưởng đội trực hô “phất” tất cả bỏ tay xuống đứng ở tư thế nghiêm chờ lệnh.

6- HÌNH RẼ QUẠT 
Đội hình rẽ quạt thường được áp dụng khi Trưởng muốn gặp và trao đổi riêng với các đội trưởng khi các đội trưởng đang dẫn đội di chuyển ( trong sa mạc, trại ) mà không muốn các đội viên tản mác. 
Thủ hiệu của Trưởng : 
Trưởng Điều Khiển đưa thẳng hai tay chếch lên cao qua hai bên thành hình chữ “ V” và hướng về phía trước ngang trên trán, bàn tay mở ra, các ngón khép lại, lòng bàn tay quay vào nhau. 
Cách di hành của các Đội :
Đội Trực chạy dẫn đầu, các Đội thứ tự chạy theo sau vòng quanh Trưởng ngược chiều kim đồng hồ, tới trước mặt Trưởng sắp thành hình rẻ quạt, cách trưởng điều khiển sáu bước.
Đội Trực đứng bên trái Trưởng Điều Khiển. Các đội khác lần lượt đứng kế tiếp sao cho các Đội Trưởng làm thành một vòng cung trước mặt Trưởng và Trưởng điều khiển đứng giữa đội hình. Đội hình đúng khi Trưởng không nhìn thấy các Đội Phó của các Đội.
Ổn định xong hàng ngũ, Đội Trưởng Đội Trực hô chào Trưởng. 
Chờ Trưởng Điều Khiển chào lại, đội trưởng đội trực hô “phất” tất cả bỏ tay xuống đứng ở tư thế nghiêm chờ lệnh.
Các đội trưởng sẽ tự động bước lên 3 bước để nhận chỉ thị trực tiếp nơi trưởng điều khiển ( đội viên không nghe được)
LƯU Ý :
Đội viên luôn luôn theo Đội Trưởng khi tập họp cũng như khi giải tán.
Đội Phó luôn đứng ở cuối hàng.
Đội trưởng đội I luôn là đội chuẩn, đứng về bên trái Trưởng điều khiển.
Khi không có đội trực, đội I sẽ là đội trực.
Khi so hàng Đội không cần phải theo thứ tự. Đội nào đứng đúng vị trí xong cứ việc so hàng.
Khi so hàng đội vào đội hình, đội trưởng chỉ dùng thủ hiệu hoặc cờ hiệu ngoài ra không dùng bất cứ hiệu lệnh nào khác.
Đội trưởng các đội sau khi tập họp đội mình xong thì tự động quay lên chờ các đội khác. Đội trưởng đội trực quan sát sau khi tất cả ổn định xong, hô khẩu lệnh chào, và khẩu lệnh “phất” khi trưởng chào xong.
Khi tập họp Đoàn, Chi Đoàn Trưởng đứng ngang hàng về phía bên phải của Đội Trưởng 1. Các Huynh Trưởng khác đứng sau Chi Đoàn hay Phân Đoàn của mình theo hàng ngang.
Khi tập họp Đoàn, Trưởng điều khiển hoặc Trưởng trực luôn đứng về phía bên trái của quan khách, Cha Tuyên Uý, Ban Điều Hành 
Khi tập họp vòng tròn và hình bán nguyệt không có so hàng Đội.
Trước khi thay đổi đội hình, Trưởng điều khiển phải giải tán đội hình đang thực hiện.
Trưởng điều khiển phải chỉnh tề tác phong, và luôn đứng về tư thế nghiêm khi thực hiện lệnh điều khiển,

XI. TRÌNH DIỆN
1. Trình diện đội :
Khi nhận được lệnh trình diện đội, đội trưởng sẽ báo cho đội viên sửa soạn lại y phục cho chỉnh tề, tập họp đội theo quy định. Sau khi hô tên đội xong ( 1 lần ) đội trưởng dẫn đội chạy theo hướng ngược chiều kim đồng hồ vòng sau lưng Trưởng điều khiển, đến xếp hàng cách 3 bước trước mặt Trưởng điều khiển, so hàng theo tên đội, cho đội quay về hướng Trưởng điều khiển bằng cách phất cờ qua phải, quan sát và chỉnh đội sao để Trưởng điều khiển đứng khoảng giữa hàng đội, đội trưởng hô lệnh chào. Chờ trưởng chào xong, đội trưởng tiến lên trình diện trước mặt Trưởng điều khiển nếu cần.
Trình diện xong, đội trưởng ra lệnh chào trưởng, xong cho đội quay sang phải (bên phải . . . quay) dẫn đội chạy về vị trí đứng ban đầu theo hướng ngược chiều kim đồng hồ vòng sau lưng Trưởng điều khiển,
(Lưu ý : trong các buổi lễ, nghi thức có quan khách và các trưởng huấn luyện, đội trưởng dẫn đội trình diện căn sao cho vị quan khách cao nhất ở đó ở vào vị trí giữa đội )

2. Trình diện cá nhân :
Người được lệnh trình diện đến trước Trưởng điều khiển (hoặc người chỉ định để trình diện) cách khoảng 3 bước, tự động đứng vào tư thế nghiêm, chào, chờ lệnh hay trình diện điều gì. Xong, chào lần nữa trước khi lui gót.

3. Trình diện đội trưởng :
Nghe lệnh triệu tập đội trưởng, các đội trưởng giao đội lại cho đội phó giữ đội, nhanh nhẹn cầm cờ chạy tới xếp hàng ngang ngay trước mặt Trưởng điều khiển, (không cần chạy vòng tròn) cách Trưởng điều khiển 3 bước sao cho Trưởng điều khiển đứng vị trí giữa hàng và đứng về tư thế nghiêm.
Đội trưởng đội trực (Nếu không phân đội trực, đội trưởng đội 1 sẽ luôn là đội trực) thấy các đội trưởng đã đầy đủ và hàng ngũ ngay ngắn sẽ hô khẩu lệnh chào, sau khi Trưởng điều khiển chào lại, hô “ Phất” đứng nghiêm chờ lệnh tiếp tục.
Sau khi nhận lệnh xong, đội trưởng đội trực hô khẩu lệnh chào lần nữa, chào xong, Trưởng điều khiển sẽ hô “giải tán” tất cả đáp lại “vui” tự động tan hàng về lại đội.

4. Lãnh cờ danh dự, nhận tua thi đua :
Được lệnh lên lãnh cờ danh dự, hoặc tua thi đua, đội trưởng hô tên đội, so hàng, hô khẩu hiệu đội xong, đội trưởng dẫn đội chạy vòng ngoài đội hình, vòng sau lưng Trưởng điều khiển và quan khách tiến vào so hàng trước vị quan khách có vị trí cao nhất (cha Tuyên uý, Sa mạc trưởng. . . ) cách khoảng 6 bước, dùng cờ hiệu so hàng , sau đó cho toàn đội quay về hướng quan khách chào (không hô khẩu hiệu đội). Đội trưởng cầm cờ tiến lên đứng giữa trước đội chờ nhận cờ danh dự hoặc tua thi đua.

Tư thế cầm cờ như sau :
Đội trưởng cầm cờ đứng ở tư thế nghiêm.
Tay phải cầm cơ đưa thẳng về phía trước, cánh tay cầm cờ so với thân mình hình thành một góc 90 độ.
Xoay cổ bàn tay phải sao cho cán cờ xuôi theo song song với tay cầm cờ, đồng thời tay trái đưa vào sát nách tay phải, lòng bàn tay úp xuống đất đón lấy gốc cán cờ giữ nguyên vị trí.
Cánh tay phải và cánh tay trái hình thành một góc 90 độ.
Chờ người trao cờ hoặc tua buộc xong, đội trưởng hạ cờ đội theo thứ tự ngược lại, chào người trao cờ, sau đó bước về vị trí cùng đội chào Trưởng điều khiển và quan khách một lần nữa, cho đội quay về phía toàn đoàn ( đàng sau . . .quay) chào toàn đoàn, cho đội quay trái đoạn dẫn đội chạy ra khỏi đội hình về vị trí cũ của đội.

Một số quy định khi thực hiện nghiêm tập :
Khi ban lệnh tập họp các đội trưởng, trưởng trực không cần phải ra thủ hiệu một hàng ngang.
Khi tập họp, đội trưởng luôn là người cầm cờ đội dẫn đầu, trừ khi vì lý do đặc biệt, đội phó sẽ cầm cờ. (Đội viên sẽ không cầm cờ)
Trước khi thay đổi đội hình, trưởng điều khiển phải giải tán đội hình đang thực hiện, trừ khi trực tiếp di chuyển đến một điểm tập trung không thực hiện đội hình.( Mang lửa về tim – đến chầu Thánh thể .v.v)
Trong nghi thức khai mạc, chào cờ, người điều khiển có thể quy ước với sa mạc sinh cách giữ nguyên vị trí “nghỉ” khi mời quan khách
Khi chào cờ, hoặc khi chào quan khách, người chào nên hướng về đối tượng chào để tỏ lòng tôn trọng.
Áp dụng nghiêm tập trong các nghi thức, cần thực hiện chính xác các động tác – đội hình cơ bản – tuy nhiên sao cho phù hợp hoàn cảnh
 Từ khóa: nghiêm tập

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây