100 phép lạ Thánh Thể (phần 2)

Thứ tư - 04/07/2012 09:08

100 phép lạ Thánh Thể (phần 2)

Phép lạ Thánh Thể - Thế kỷ 13

 
1. Phép lạ tại làng Santarem, nước Bồ (Portugal) Năm 1266 Mình Thánh Tỏa sáng

 

 
Santarem, một làng nhỏ tại Bồ Đào Nha, tọa lạc giữa Fatima và thủ đô Lisbon, cách Fatima chừng 35 dặm. 
Năm 1266, (có sách nói năm 1225, hoặc 1247) đang thời Đức Clementê IV làm Giáo Hoàng ở Roma và vua Alfonso III cai-trị Bồ-đào-nha, một truyện lạ Thánh-thể xảy ra ờ nước Bồ như sau:
Một cặp vợ chồng cư ngụ ở đường Esteiras, thành phố Santarem. 
Bà vợ, tương đối đạo hạnh, nhưng đau khổ vì chồng lạnh nhạt, bất trung. 
Bà vợ rất buồn sầu. Bà hay lui tới nhà thờ thánh Stephan, gần ngay nhà bà, cầu xin Chúa và khấn thánh Stephan cho chồng mình trở về đàng chính.
Gần chỗ bà ở, có một mụ Do-thái hành nghề phù thủy. Thiên hạ đồn đãi bà ta có phép mầu, trừ khử tà ma, yêu quái, thay đổi lòng người dễ dàng như trở bàn tay. Bữa nọ, bà vợ rầu rĩ quá, liền tìm đến mụ phù thủy, thổ lộ hết bầu tâm sự. Mụ phù thủy, giả nhân giả nghĩa, đăm chiêu, suy nghĩ một hồi, rồi nói: 
-"Tôi bảo đảm hoán cải được chồng chị. Chỉ cần chị làm một việc. Nhưng chị hứa phải tuyệt đối giữ bí mật: Chị đi lễ, sau khi rước lễ chị lấy ngay Mình Chúa ra khỏi miệng, gói vào một cái khăn, đem đến cho tôi. Tất cả phép mầu hoán cải chồng chị là nhờ ở đó.
Bà vợ dễ tin, xin làm y lời mụ phù thủy. Một hôm, đi nhà thờ, rước lễ xong, bà lấy Mình Chúa ra khỏi miệng, ý tứ không để ai biết, bọc vào miếng vải nhỏ.. Rồi nhét cẩn thận vào khăn trùm đầu, đeo trước ngực... Bà ra về, định bụng tới nhà mụ phù thủy...

Bà vừa bước chân ra khỏi nhà thờ, thì mấy người đang đứng đó thấy máu tươi loang lổ ở nút khăn trước ngực, chảy xuống cả tay. Họ ngỡ ngàng hỏi bà bệnh tật gì mà máu me như vậy. Bà nhìn xuống khăn, giật mình, mặt mũi tái mét, lấy tay che ngực, chạy thẳng về nhà. 
Tới nhà, bà bỏ cả bọc có Mình Chúa, cả khăn trùm đầu vào một ngăn tủ. Khóa lại cẩn thận. Bà không muốn cho chồng hay bất cứ ai biết việc vừa xẩy ra. Rồi suốt ngày bà sợ hãi, lo lắng tính toán, phải giải quyết ra sao?

Ông chồng suốt ngày đi vắng... Mãi khuya mới về. ông vào phòng ngủ với bà. Ngủ được một chập, ông giật mình, mở mắt, thì thấy trong ngăn tủ, chỗ bà giấu bọc Mình Chúa, có ánh sáng giãi ra, cả phòng sáng rực lên... như ánh sáng mặt trời giữa trưa từ ngoài rọi vào. Thêm vào đó, lại có tiếng nhạc đâu đây du dương, trầm bổng, chen lẫn mùi nước hoa thơm tho, ngào ngạt thường...

Bà vợ biết không thể nào giấu giếm truyện kỳ lạ kia được nữa, mới xưng thú, kể lại cho chồng đầu đuôi mọi sự... Cả ông cả bà sợ hãi, rối rít, không còn biết làm gì hơn, là cùng quỳ gối, sấp mặt xuống đất trước Mình Chúa giấu trong tủ. 

Sáng sớm hôm sau, cả ông cả bà vội vã đến nhà thờ thánh Stephan, gặp cha sở, kể lại đầu đuôi mọi sự... 
Cha sở đến tận nhà xem xét. 
Khi mở ngăn tủ, cha sở thấy bọc Mình Chúa bà kia đã giấu, có máu đỏ tươi loang lổ trên khăn...nhìn nhận Chúa đã làm một sự lạ phi thường, vừa để cảnh cáo những ai càn dỡ phạm thánh, vừa để chứng minh sự Chúa hiện diện thật sự trong hình bánh sau khi đã truyền phép...

Tin lạ đồn ra. Các nhà thờ trong thành phố đổ chuông. Giáo dân, xa gần, kéo đến nhà xảy ra sự lạ. 
Sau đó, linh mục, giáo dân, cờ quạt, chiêng trống, hân hoan rước Mình Chúa qua các đường phố Santarem về nhà thờ. Mình Thánh được đựng trong một chiếc hộp bằng sáp, và được lưu giữ cẩn thận trong Nhà Tạm.

Tưởng thế là xong, một phép lạ khác lại xảy ra. 
Lần kia khi cha xứ mở cửa Nhà Tạm, hộp tráng sáp đựng Thánh Thể đã bị vỡ tung thành nhiều mảnh. Thế vào đó, ngài đã làm một hộp pha lê đựng Máu Thánh. Hộp đó đã được giữ cẩn thận ở ngôi thánh đường này cho đến ngày nay. 

Từ đó, ngôi thánh đường đã được đổi là: "Thánh Đường Phép Lạ". 
Từ ngày phép lạ xảy ra, hằng năm, vào Chúa Nhật thứ hai trong Tháng Tư, dân địa phương đã diễn lại sự kiện trên, và Phép Lạ Thánh Thể đã được long trọng cung nghinh từ ngôi nhà xảy ra phép lạ về nhà thờ chính. 
Từ năm 1684, căn nhà này đã trở thành nhà nguyện để cho khách thập phương kính viếng.

Phép Lạ Thánh Thể Santarem chỉ rời thành một lần vào lúc quân đội Napôlêon chiếm Bồ Đào Nha vào năm 1810. Vì dân làng lo sợ sự phạm thánh do tay những người Pháp, nên Thánh Thể đã được Đức Giám Mục thành Lisbon chuyển đi nơi khác. Ngài đã đặt Thánh Thể để các giáo hữu Lisbon tôn kính. Có người cho rằng ngài muốn giữ Thánh Thể vĩnh viễn tại thánh đường Pacao. Dân thành Santarem hay tin đã nổi giận và mở một cuộc biểu tình quá gây cấn. Thế rồi, Phép Lạ Thánh Thể đã được đem về Santarem cách bí mật trong ngày 2/12/1811 nhưng dân Lisbon không hay biết gì. Phép Lạ Santarem được cất giữ cẩn thận và ít khi được đem ra trưng bày. Tuy nhiên, khách hành hương dễ dàng đến kính viếng và chiêm ngắm Máu Thánh. Mình Thánh được đặt trong một mặt nhật bằng vàng có 33 tia sáng cho tới ngày nay.
Bánh Thánh có hình khác thường với những đường máu chảy từ trên xuống dưới và người ta đã thu được một số lượng máu ở hộp đựng Bánh Thánh.

Bác sĩ Hoagland ở New Jersey đã đến viếng Bánh Thánh nhiều lần và nhận thấy rằng có nhiều lúc máu có mầu như máu tươi, có những lúc như máu chết. Máu Thánh vẫn còn ở thể lỏng tới 750 năm sau khi Phép Lạ xảy ra vào đầu thế kỷ 13.
Sau khi được sự chuẩn nhận của giáo quyền Nhà Thờ Thánh Stêphanô được đổi tên là "Nhà Thờ Phép Lạ Thánh Thể." 
Tu viện thánh Đa minh ở Santarem cũng được vinh dự lớn, tồn trữ một phần nhỏ miếng vải bà kia đã dùng bọc Mình Chúa...



2. PHÉP LẠ TẠI ALATRI, NƯỚC Ý
NĂM 1228
Một thiếu nữ quê tại thành phố Alatri mê say một chàng trai, nhưng anh này lại được nhiều cô ái mộ. Vì thất bại trong cố gắng chinh phục sự lưu tâm của anh ta, cô quyết định đi tìm một người có thể cho cô một thứ tình dược, và chẳng bao lâu cô đã tìm được một phụ nữ nổi tiếng thông thạo về những vấn đề như thế. Thiếu nữ này được cho biết hãy đi rước lễ rồi lấy Bánh Thánh ra và nhẹ nhàng đặt vào một chiếc khăn.
Thiếu nữ đã làm theo lời căn dặn và mãn nguyện vì không ai phát giác ra việc lấy Bánh Thánh. Tuy nhiên, lương tâm của cô tức thì bị hoang mang. Đang lúc trên đường về, và nhất là khi bước vào nhà, cô xao xuyến quá mức đến độ phải quyết định đi giấu Bánh Thánh. Đặt Bánh Thánh vào một chiếc túi nhỏ, và giấu vào góc kho đựng bánh.
Hai ngày hai đêm đã trôi qua. Trong giấc ngủ chập chờn, cô bị những cơn ác mộng ám ảnh và tưởng như đã nghe những lời phán xét trầm đọa cô vào lửa muôn kiếp. Đến ngày thứ ba, trời vừa rạng sáng, cô chỗi dậy khỏi giường và đi lấy Mình Thánh. Trong lúc phân vân không biết có nên giao Mình Thánh cho người đàn bà đã chỉ bậy cho cô hoặc đem trả lại cho nhà thờ, cô lấy chiếc túi ra và mở những nếp vải gấp. Đầy dẫy kinh hoàng, cô thấy Bánh Thánh không còn là tấm bánh nữa, mà đã chuyển sang màu thịt – mà là thịt còn tươi.
Những tiếng khóc lóc thổn thức của thiếu nữ làm cả nhà chú ý, họ vội vàng chạy đến chỗ cô và nhìn thấy phép lạ. Họ đã nhanh chóng loan tin cho những người láng giềng. Tin báo lan truyền khắp cả xứ đạo, và với nỗ lực của những người đưa tin, cả thành phố đều bàn tán về sự kiện.
Khi được thông tri, cha sở đã đến ngôi nhà ấy cùng với mấy linh mục khác, ngài lấy chiếc túi đựng Bánh Thánh và dùng một chiếc khăn phủ lên. Trên đường trở về, thay vì đem Mình Thánh đến cho đức giám mục, cha sở quyết định đưa về nhà thờ xứ mình vì lòng nhiệt thành và nôn nao của đám đông dân chúng muốn được tận mắt chứng kiến phép lạ.
Người ta kể rằng trong số những người cùng đi với vị linh mục, có một người đã biến mất – đó là người phụ nữ trước kia đã đề nghị cách làm bùa yêu. Về sau, bà này thú nhận rằng khi nghe tin về phép lạ, bà đã trốn trong xó nhà, nghĩ cách chữa mình. Ngoài những điều khác, bà quyết định nói rằng mình là một con người cầu nguyện, tốt lành, và thật thà; chính thiếu nữ kia mới là một đứa dối trá đã đặt chuyện để vu khống bà. Sau khi an tâm vì tìm được đủ lý do bào chữa, bà cảm thấy lạc quan, và khi được những người đưa tin triệu đi trình diện đức giám mục, bà sẵn sàng đi với họ. Khi người phụ nữ nhận thấy đám đông không có ác ý với mình, bà cảm nghiệm được những tình cảm mới lạ nên quyết định sấp mình dưới chân đức giám mục xin ơn tha thứ.
Trong lúc đó, Mình Thánh đã được tôn kính trên bàn thờ đầy đèn nến và hoa lá tại nhà thờ chính tòa. Dòng người nối nhau hầu như bất tận đến cung chiêm phép lạ. Ngày hôm sau, những người từ các miền lân cận cũng tỏ vẻ hiếu kỳ. Trong lúc ấy, đức giám mục Giovanni của giáo phận Alatri hầu như lúc nào cũng bận rộn gặp gỡ các giới chức giáo quyền và dân sự muốn tìm hiểu vấn đề.
Trong khi mọi người đồng ý đây là một tội phạm thánh nặng nề, nhưng lại không biết nên xử hai người phụ nữ bằng hình thức sám hối nghiêm khắc nào để làm gương. Vì thế, đức giám mục Giovanni đã thảo một bức thư và gửi lên đức thánh cha Gregory IX, tường trình vắn tắt vụ phạm thánh và sự kiện lạ lùng của phép lạ sau đó. Bức thư cũng hỏi đức thánh cha nên áp dụng hình phạt nào cho những người đàn bà đã thú nhận tội lỗi và thành tâm hối lỗi. Bức thư - mang con dấu của đức giám mục và chữ ký của các vị phụ tá - đã được một người chạy tin đưa đến Rôma.

Trong mùa Phục Sinh năm ấy, tức là năm 1228, đức giám mục giáo phận Alatri vui mừng thông báo cho các linh mục thư của đức thánh cha. Bức thư bằng giấy da đề ngày 13 tháng 3 với chữ ký của đức thánh cha hiện nay đang được lưu giữ cẩn thận trong văn khố của nhà thờ chính tòa giáo phận Alatri. Sau khi nhắc lại những sự kiện, đức thánh cha tuyên bố:

… Chúng ta hãy thể hiện lòng biết ơn hết sức chân thành với Đấng, ngoài việc luôn luôn thực hiện mọi công việc của Người một cách kỳ diệu, nhiều khi còn làm những phép lạ và thực hiện những điều lạ lùng tân kỳ để kêu gọi các tội nhân hối cải, qui hồi những người xấu xa, và phá tan những việc gian tà bằng cách củng cố đức tin, nâng đỡ đức trông cậy, và khơi lên đức mến của Giáo Hội Công Giáo.
Vì thế, hỡi chư huynh, qua bức tông thư này, Ta chỉ đạo chư huynh hãy ra một hình phạt rất nhẹ cho thiếu nữ, người mà theo ý kiến của Ta, đã phạm một tội lỗi nặng nề dường ấy chỉ vì yếu đuối hơn là vì sự gian tà xúi giục, nhất là khi xét đến việc thiếu nữ ấy đã thành tâm thống hối khi thú nhận tội lỗi. Tuy nhiên, đối với phụ nữ xúi giục, người đã dùng tà tâm mà xúi bẩy thiếu nữ phạm sự thánh, chư huynh hãy áp dụng những biện pháp kỷ luật mà chư huynh nghĩ là thích đáng; ngoài ra cũng phải ra lệnh cho kẻ này phải kính viếng tất cả các giám mục quanh vùng để xưng tội và nài xin ơn tha thứ trong tinh thần suy phục sốt sắng.


Bánh Thánh phép lạ vẫn nguyên vẹn qua nhiều thế kỷ, mãi cho đến năm 1700, khi đức giám mục Guerra nhượng cho đức hồng y Cybo một phần, được mô tả chỉ nhỏ bằng một hạt đậu hà lan. Phần nhỏ này được đức hồng y đặt trong một chiếc hộp và giao cho nhà thờ S. Maria degli Angeli alle Terme tại Rôma, nơi ngài muốn được mai táng sau khi qua đời. Tuy nhiên, khi các tu sĩ đảm trách nhà thờ này được thuyên chuyển đi nơi khác sau đó vài năm sau, có lẽ họ đã quên lời trối của đức hồng y và ước nguyện của ngài muốn lưu giữ phần Bánh Thánh phép lạ ấy tại nhà thờ này. Trong những năm gần đây, người ta đã cố công tìm lại phần Bánh Thánh ấy, nhưng vẫn chưa có kết quả.
Phần chính của Bánh Thánh phép lạ vẫn còn được lưu giữ tại nhà nguyện tôn kính phép lạ này trong nhà thờ chính tòa Alatri, và được bày kính công khai mỗi năm hai lần, vào Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh và Chúa Nhật sau lễ Hiện Xuống. Vì tính cách khiêm ẩn, nên Bánh Thánh này được gọi là “Phép Lạ của Giới Nghèo.”
Năm 1960, nhân dịp mừng ngân khánh giám mục, đức cha Edoardo Facchini của giáo phận Alatri đã tuyên bố ngài “… nhận thức được đức tin sâu xa của dân chúng vào sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu trong Thánh Thể, đức tin đã được củng cố nhờ phép lạ Bánh Thánh nhập thể, mà thánh tích đang được tôn kính và lưu giữ tại vương cung thánh đường của chúng ta.” Đức giám mục cho rằng dịp mừng này rất thích thuận để tiến hành việc công nhận thánh tích theo Giáo Luật, và công việc đã được xúc tiến với sự hiện diện của một vị giám mục khác và nhiều giáo sĩ.
Hộp đựng đã được đưa từ nhà nguyện đến một gian phòng trong vương cung thánh đường, ở đây, các dấu niêm được cẩn thận xem xét và thấy vẫn còn nguyên vẹn. Ống thủy tinh chứa Bánh Thánh được lấy ra khỏi hộp đựng, giải lụa đỏ cũng như dấu niêm của đức cha Pietro Saulini, giám mục Alatri, đã được xác nhận. Nhiều điều này được tuyên bố giống với tình trạng đã được mô tả trong các biên bản của lần xét nghiệm trước đó, ngày 1 tháng 12 năm 1886.
Sau khi phá dấu niêm, đức cha Facchini đã đưa Bánh Thánh phép lạ ra ngoài. Ngài tuyên bố Bánh Thánh vẫn giữ nguyên hình dạng như lần xét nghiệm trước – tức là một miếng thịt có màu hơi nâu nâu, “… có hình trụ của ống đựng, và hơi bóng bóng ở tất cả những phần tiếp xúc với chiếc ống.”
Sau khi đã tham khảo các nhân chứng và họ công nhận thỏa mãn với quá trình xét nghiệm, Bánh Thánh phép lạ đã được đặt lại vào ống thủy tinh và niêm bằng một dấu ấn kép, sau đó, được đặt vào một triều thiên bằng bạc và vàng, có hình thánh giá với những tia sáng dài ngắn bằng vàng.
Vào năm 1978, nhân dịp kỷ niệm 750 năm phép lạ xảy ra, những nghi thức đặc biệt đã được cử hành và những buổi diễn thuyết đã được tổ chức. Các bài thuyết trình được gồm lại trong một quyển sách, kể lại tường tận các chi tiết của phép lạ. Trong dịp lễ mừng 750 năm, đức cha Cesario D’Amato đã tuyên bố với cử tọa rằng: “Phép lạ vẫn còn dó. Thật là nhãn tiền, bền vững, và chân thực.” 

3 và 4-Hai Phép Lạ Thánh Thể tại Firenze (Bắc Italia)

Năm 1230 và năm 1595
(Joan Carroll Cruz, Phép Lạ Thánh Thể, Chương 7, Regina xb, USA, 2002) 
Nhà thờ San Ambrogio, tọa lạc tại trung tâm thành phố Firenze (Florence) được vinh dự không những có một, mà là hai thánh tích Thánh Thể.
- Phép lạ thứ nhất xảy ra vào ngày 29 tháng 12 năm 1230, liên quan đến một vị linh mục lão thành tên làHuguccion (Uguccione) , khi ấy đang làm tuyên úy cho một nữ đan viện cạnh nhà thờ San Ambrogio.
Vào sáng hôm trước, sau khi dâng lễ, cha đã vô ý quên lau chén thánh, hoặc lau không kĩ, nên còn sót lại chút Máu thánh dưới đáy chén vàng. Sáng hôm sau, 30-12-1230,khi rót rượu vào chén, ngài hết sức bàng hoàng vì thấy dưới đáy chén thánh có một lượng máu đông đỏ thẫm. Giọt máu phân ra 3 phần đều nhau. Rồi 3 phần giọt máu kết hợp lại và nổi lên trên mặt rượu đổ vào, giống như giọt dầu nổi lên trên mặt nước. 
Cha Huguccion bàng hoàng xúc động. Lòng Cha trào dâng niềm kính trọng thánh thiêng. Cha bỗng bật lên khóc nức nở. Các nữ tu Biển Đức vội vàng chạy lên bàn thờ vì nghĩ rằng có lẽ vị Linh Mục cao tuổi bị mệt bất ngờ chăng. Nhưng khi lên đến nơi các Chị mới hiểu sự việc và kinh ngạc trước Phép Lạ Thánh Thể. Chị Taida - Nữ Đan Viện Trưởng - nhanh chân đi lấy một bình thủy tinh dùng để đựng Dầu Thánh và đưa cho vị Linh Mục. Cha Huguccion trang trọng đổ vào bình thủy tinh Giọt Máu Thánh cùng với phần rượu đổ vào Chén Thánh. Sau đó, Cha lấy lại bình tĩnh và tiếp tục dâng hết Thánh Lễ. 

Giọt Máu Thánh được kính cẩn đặt vào Nhà Tạm. Nhưng 3 ngày sau, một Phép Lạ Thánh Thể khác diễn ra. Xuyên qua bình thủy tinh, người ta trông thấy Giọt Máu Thánh giờ đây chuyển thành Tấm Thịt Thánh và treo lơ lửng bên trong bình thủy tinh, không chạm vào thành bình thủy tinh.Ngoài ra phần rượu chưa được truyền phép bỗng chuyển thành màu hồng rồi khô đi và biến mất, không để lại dấu vết gì cả. 

Tiếng vang Phép Lạ Thánh Thể đồn ra khắp thành Firenze. Vị Giám Mục giáo phận lúc bấy giờ là Đức Cha Ardingo. Ngài cử nhiều Linh Mục đến nhà thờ Thánh Ambrogio để lấy bình thủy tinh đựng Phép Lạ Thánh Thể và đem về điều tra thật kỹ lưỡng. Sau đó Đức Cha giữ thánh tích Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU KITÔ tại tòa giám mục. 
Tuy nhiên sắp đến ngày mừng lễ Thánh Ambrogio (339-397), các nữ tu Biển Đức muốn xin Đức Giám Mục trao lại thánh tích. Các Chị nhờ các Linh Mục dòng Phanxicô đến tòa giám mục rước về. Thế là Thánh Thể Phép Lạ được long trọng rước về nhà thờ Thánh Ambrogio giữa tiếng hát chúc tụng các bài Thánh Thi và Thánh Ca của một đoàn ngũ đông đảo các tín hữu Công Giáo đạo đức và sốt sắng. 


Về phần Đức Cha Ardingo, vị Giám Mục dửng dưng cứng cỏi và thiếu lòng yêu mến kính trọng đối với Phép Lạ Thánh Thể, ngài sớm bị chính Đức Chúa GIÊSU Thánh Thể khiển trách. Ngay đêm sau đó trong giấc ngủ, Đức Cha Ardingo nghe một tiếng nói rõ ràng rót vào tai: “Hỡi giám mục, người tiếp rước Ta lạnh lùng và trả lại Ta cũng lạnh lùng trơ trụi!” Tiếng nói lập lại ba lần như thế. Vị giám mục giật mình thức giấc. Lời trách cứ khiến vị giám mục mở mắt tinh thần. Ngài hiểu ngay thái độ bất xứng của mình đối với Phép Lạ Thánh Thể trọng đại. Đức Cha Ardingo thật lòng ăn năn thống hối. Ngài lập tức đặt làm một Nhà Tạm bằng ngà nạm bằng vàng, và phủ khăn nhung đỏ thẫm. Đức Cha cho người mang Nhà Tạm đến nhà thờ các nữ tu Biển Đức để các Chị đặt vào Nhà Tạm Mình Thánh Phép Lạ Đức Chúa GIÊSU KITÔ. 
Thế nhưng Mình Thánh Phép Lạ vẫn còn ở trong bình thủy tinh bình thường. Một lần nữa, chính Đức Mẹ MARIA lại can thiệp để Mình Thánh Chúa được cất giữ cách tương xứng. Đức Mẹ hiện ra trong giấc mơ với một thiếu nữ thuộc đan viện Thánh Ambrogio. Đức Mẹ truyền cho thiếu nữ báo cho Chị Margarita - nữ tu lo phòng thánh - biết: Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU vẫn chưa có nơi trú ngụ xứng đáng. Được ơn trên soi sáng, Chị Margarita hiểu ngay phải chuẩn bị một Chén Thánh thật đẹp thay cho bình thủy tinh đang đựng Mình Thánh Chúa. Sau khi đặt các nhà điêu khắc tài ba làm một Chén Thánh tuyệt mỹ, Đức Cha Ardingo đích thấn đến nhà thờ Thánh Ambrogio. Chính ngài đặt Mình Thánh Phép Lạ vào trong Chén Thánh mới rồi long trọng đặt vào Nhà Tạm. 


Sau 750 năm, lượng máu ấy vẫn còn được gìn giữ nguyên vẹn. Trong nhà thờ San Ambrogio, nơi Thánh Thể phép lạ được lưu giữ, những bức tường được trang trí bằng những họa phẩm của nghệ nhân Cosimo Rosselli diễn tả cuộc cung nghinh Máu Thánh phép lạ qua các đường phố thành Florence vào năm 1340, khi thành phố bị một trận bệnh dịch hoành hành. 
-Phép lạ thứ hai xảy ra vào ngày 24 tháng 3 năm 1595, khi tấm vải bàn thờ chính bị cháy, làm hư hại bàn thờ và nhà tạm. Một bình đựng Mình Thánh lăn xuống sàn nhà và mở ra vì chấn động. Những Bánh Thánh đổ ra trên tấm thảm dưới chân bàn thờ co lại và kết liền với nhau do sức nóng của ngọn lửa. Tuy nhiên, khối Bánh Thánh này vẫn được giữ tốt nguyên sau gần 400 năm.
Ngày nay, hai Thánh Thể phép lạ ấy đã được lưu giữ trong cùng một mặt nhật. Trên chóp đỉnh là một hộp nhỏ, có một thiên thần nhỏ bằng vàng nâng giữ, hộp này có thể đựng một Bánh Thánh mới được truyền phép. Phía dưới hộp này, ở giữa hai thiên thần lớn hơn, là một bình thủy tinh, người ta có thể nhìn thấy bên trong có một ống pha lê và lượng máu đông của phép lạ năm 1230. Bên dưới bình thủy tinh hình trụ này, và phía sau một tấm kính là một chiếc hộp đựng các Bánh Thánh phép lạ năm 1595, có thể được nhìn thấy rõ ràng. Mặt nhật đựng các thánh tích này được giữ tại một ngôi nhà nguyện có nhà tạm xinh đẹp được nghệ nhân Mino Fiesole điêu khắc vào năm 1481.
Hằng năm, mặt nhật đựng hai thánh tích Thánh Thể này được trưng bày tại nhà thờ San Ambrogio. Theo cha sở của giáo xứ, các phép lạ này “… là sự nhắc nhở mạnh mẽ về sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể.”


5- Phép Lạ Thánh Thể ở Daroca, Tây Ban Nha
năm 1239


(CHIẾN THẮNG NHỜ CHÚA GIÊSU THÁNH THỂ)

Thành phố Darôca ở miền đông bắc Tây Ban Nha, thành này nằm sát thành Valencia. 
Năm 1239, người Arập Hồi giáo muốn đánh chiếm Tây-Ban-Nha. Trước tiên, họ tiến chiếm thành Valencia, cạnh thị trấn Dacora. Valencia nằm về mạn Đông Nam Tây-Ban-Nha. 
Một hôm, nhóm hồi giáo bất ngờ đem quân đông đảo nhằm đánh phá tan tành quân lực Công Giáo chỉ gồm khoảng 1 ngàn binh sĩ.
Thấy cơ nguy, nhóm binh sĩ Công Giáo vội chạy vào một lâu đài. Với con số quá ít so với địch quân, binh sĩ Công Giáo cầm chắc thất bại trong tay. 

Vì thấy không còn hy vọng nơi bất cứ quyền lực thế trần, nhóm binh sĩ Công Giáo liền đặt trọn niềm tin tưởng nơi sự trợ giúp của Trời Cao. Họ bảo nhau chuẩn bị tinh thần trước khi khởi sự cuộc chiến bằng cách lãnh nhận hai bí tích Giải Tội và Thánh Thể. 
Thế nhưng, hiểm nguy đến gần, thời giờ cấp bách mà chỉ có một Linh mục, nên tất cả binh sĩ không thể lãnh nhận bí tích Giải Tội cũng như rước Mình Thánh Chúa. Họ đề cử 6 tướng lãnh tham dự Thánh Lễ thay cho toàn binh sĩ. Trong lúc đó, các binh sĩ Công Giáo túc trực hầu sẵn sàng đẩy lui mọi tấn kích của quân thù. 
Sau khi 6 tướng lãnh xưng tộihọ vây quanh bàn thánh sốt sắng tham dự Thánh Lễ. Thánh Lễ đến hồi Truyền Phép và sau đó mọi người chuẩn bị rước lễ. Nhưng vào chính lúc ấy, còi động vang lên báo hiệu quân hồi giáo đang tiến vào. Nhanh như chớp, 6 tướng lãnh vơ vội vũ khí chạy như bay nhập hàng với các binh sĩ khác cương quyết chống trả kẻ thù. Vì không muốn phơi bày Mình Thánh Chúa cho quân hồi giáo xúc phạm, vị Linh Mục cẩn trọng đặt tất cả Bánh Thánh vào Khăn Thánh, gói kín lại và dấu dưới một viên đá. 
Tuy nhiên, Chúa GIÊSU KITÔ như cảm động trước tâm tình tín thác vô bờ của nhóm binh sĩ Công Giáo thành Valencia nơi sự trợ giúp của bí tích Thánh Thể. Ngài không để họ phải thất vọng. Chúa GIÊSU xuất hiện cách oai hùng, dẫn đầu đoàn binh Công Giáo ít ỏi kháng cự nhóm hồi giáo vô cùng đông đảo. Thế là nhóm Ả-Rập hồi giáo thất kinh hồn vía, ù té bỏ chạy như điên. 

Quân lực Công Giáo Tây-Ban-Nha thắng trận vẻ vang. Đầy lòng tri ân trước chiến thắng bất ngờ, các tướng lãnh Công Giáo quyết định thi hành chương trình thiêng liêng đã vạch ra trước khi bị tấn công: lãnh nhận Mình Thánh Chúa GIÊSU KITÔ. Vị Linh Mục hân hoan nhanh chân đến chỗ dấu ẩn mang Mình Thánh Chúa về bàn thờ. Nhưng lạ lùng thay,
khi vị Linh Mục mở Khăn Thánh ra thì thấy các Bánh Thánh lấm tấm các giọt máu và Máu dính vào Khăn Thánh. 


Có sách kể: "Cũng trong giờ phút trọng đại mừng chiến thắng này, vị linh mục tới nơi cất giấu Mình Thánh Chúa để rước về bàn thờ thì không thấy Mình Thánh Chúa nữa. Vị linh mục cùng với mọi người sốt sắng cầu nguyện lâu giờ thì được ơn trên soi sáng và vị linh mục mới tìm thấy. Vị linh mục cung kính rước về bàn thờ và khi mở Khăn Thánh ra, ngài vô cùng kinh ngạc là Mình Thánh Chúa đã biến mất, song để lại 6 vết máu in đậm trên khăn. Được trực tiếp chứng kiến sự kiện lạ lùng này, vị linh mục này tự hỏi lý do nào Chúa đã làm phép lạ này? Cuối cùng ngài nghĩ: Đó là dấu Thiên Chúa bảo vệ và yêu thương đoàn quân Công Giáo. Rồi ngài đem Khăn Thánh có Máu Thánh đặt trên bàn thờ cho các binh sĩ chiêm ngắm và thờ lạy Chúa hiện diện trên tấm Khăn Thánh lạ lùng này".

Thay vì tỏ ra kinh hãi các binh sĩ Công Giáo Tây-Ban-Nha nghĩ rằng, chính Máu Thánh Chúa GIÊSU KITÔ đã giúp cho cuộc giao tranh đi đến chỗ chiến thắng ngoài mức chờ mong 
Trong khi đó, quân Ả-Rập hồi giáo sau khi chạy tán loạn, liền qui tụ lại. Họ hổ thẹn vì đã thất trận ê chề. Lần này họ cương quyết quay trở lại để đánh giết tan tành nhóm binh lính Công Giáo. Về phía binh sĩ Công Giáo, được củng cố nhờ sự trợ giúp thần linh của Chúa GIÊSU Thánh Thể, không hề tỏ ra nao núng sợ hãi. Họ xin vị Linh Mục cầm Khăn Thánh có in Máu Thánh Chúa GIÊSU KITÔ đứng trên nơi thật cao, làm thế nào để tất cả các binh lính Tây-Ban-Nha đều có thể trông thấy. Các binh sĩ Công Giáo hăng say chiến đấu. Họ xông tới giết trọn bộ nhóm quân hồi giáo 
Chiến thắng vinh quang thứ hai chấm dứt cuộc giao tranh đẫm máu của quân Ả-Rập hồi giáo muốn đánh phá và chiếm đoạt thành Valencia của các tín hữu Công Giáo 


(P. Eugène COUET, “Les Miracles Historiques du Saint Sacrement”, Éditions D.F.T, Réédition 1998).
Vì Thánh Lễ đã được dâng trên cánh đồng ngoài thành phố Valencia, nên cả ba thành phố Teruel, Catalayut và Darôca đều tranh nhau cho rằng phép lạ xảy ra trên phần đất của mình và đòi quyền gìn giữ Khăn Thánh. Cuộc tranh dành này kéo dài khá lâu, mãi khi cả ba thành phố đều đồng ý giải pháp may rủi bằng cách là cung kính đặt tấm Khăn Thánh phép lạ trên mình con lừa, nếu con lừa đi về hướng thành phố nào thì thành phố đó được vinh hạnh lưu giữ tấm Khăn Thánh phép lạ quí giá này.
Cuộc bắt thăm may rủi hồi hộp diễn ra trước sự chứng kiến đông đảo của nhiều người thuộc cả ba thành phố. Con lừa kính cẩn mang trên mình tấm Khăn Thánh phép lạ từ từ cất bước. Mọi người chăm chú theo dõi, con lừa như có một sức hút vô hình, từ từ cất bước tiến thẳng về cổng thành phố Darôca. Thế là dân chúng thành phố này vui mừng reo hò tạ ơn Chúa và họ đã kính cẩn lưu giữ báu vật này cho tới ngày nay.
Một thánh đường được xây cất ngay trung tâm thành phố Darôca như là một chứng tích của Khăn Thánh phép lạ. Đến cuối thế kỷ thứ 15, đầu thế kỷ 16, thánh đường này đã được tu sửa mở rộng lớn hơn. Từ đây ngôi thánh đường này được mệnh danh là thánh đường Học Viện Mẹ Maria. Trên các tường nhà thờ lưu giữ Khăn Thánh phép lạ này, đã vẽ các cảnh diễn ra phép lạ rất đẹp. Phép lạ được loan đi khắp nơi và có nhiều tài liệu kể lại, đặc biệt là những tài liệu ghi lại biến cố phép lạ năm 1240.
Thời gian trôi qua, Khăn Thánh phép lạ Sagrados vẫn là sở hữu quí giá và tôn trọng của dân thành phố Darôca thuộc nước Tây Ban Nha ngày nay.
 

6. PHÉP LẠ TẠI OLMUTZ, NƯỚC TIỆP KHẮC

Năm 1242

Trong thế kỷ XIII, khi người Tartar đang xâm lấn nhiều quốc gia, gieo rắc sự tàn bạo và hủy diệt, tướng Jaroslas xứ Sternberg đảm nhận công cuộc bảo vệ vương quốc Moravia trước nguy cơ sắp bị tấn công. Qui tụ được đạo quân 8000 người từ Bohemia và 4000 công dân Moravia, tướng Jaroslas đã đồn trú tại thành phố Olmütz kiên cố.
Địch quân lập tức kéo đến lãnh địa này và bắt đầu đốt phá các làng mạc, tàn sát tất cả những ai chống đối, ngay cả tu viện Gradie cũng không được tha. Sau khi đã chặt đầu các tu sĩ sống bên trong tu viện, quân Tartar đã thiêu rụi bình địa các tòa nhà. Sau đó, cột thủ cấp của các tu sĩ vào đuôi ngựa, chúng trâng tráo kéo đến thành phố và đóng quân ngay dưới cổng thành Olmütz.
Căm phẫn trước cảnh tượng ấy, quân binh của Jaroslas muốn tấn công lập tức; nhưng họ đã bị chủ tướng kiềm lại vì cho rằng phải chờ đợi một thời cơ tốt hơn mới tiến công quân thù. Tưởng sự trì hoãn ấy là dấu hiệu sự nhát đảm, quân Tartar lơi lỏng cảnh giác, nhiều kẻ bỏ doanh trại khi cướp phá tại các làng quê.
Vào ngày lễ thánh Gioan Tẩy Giả, tướng Jaroslas khiêm nhượng xưng tội và lãnh nhận bí tích Thánh Thể. Theo gương sáng của ông, các binh sĩ cũng lãnh nhận các bí tích, chuẩn bị cho trận đánh được dự trù vào đêm hôm sau.
Chỉ một ít quân ở lại hậu tuyến để bảo vệ thành phố OlmÜtz, còn lại tất cả binh sĩ đều tập trung bên ngoài các cổng thành ngay sau nửa đêm để chuẩn bị trận đánh. Một lần nữa, các binh sĩ lại noi gương chủ soái, xuống ngựa và quì gối xuống đất. Khi mọi binh sĩ đã quì gối, Jaroslas dâng lời nguyện cầu lên Mẹ Thiên Chúa và hứa sẽ xây cất một thánh đường để tôn vinh Mẹ nếu như thắng trận. Sau khi cất tiếng tung hô Ave Maria, các binh sĩ lên ngựa ra khỏi đồn để xông đánh quân thù.
Không những xuất chinh dưới sự bảo trợ của Mẹ Thiên Chúa, quân đội Công Giáo còn được mạnh mẽ thêm nhờ sự hiện diện thực sự của Thánh Thể Đấng Cứu Độ. Năm Bánh Thánh đã được giữ lại sau khi các binh sĩ hiệp lễ ngày hôm trước. Jaroslas cho đặt các Bánh Thánh vào một bình thánh và nhờ một linh mục cỡi ngựa mang vào trận chiến. Jaroslas so sánh trận đánh này với biến cố Cựu Ước, theo lệnh Thiên Chúa, hòm bia giao ước đã được quân Israel mang vào trận chiến (Jos. 6).
Dưới bóng đêm bao trùm, trận chiến đã diễn ra đẫm máu và số tử thương rất cao. Chủ soái quân Tartar bị giết chết và quân thù bị đánh tan tành, quân binh Công Giáo thắng trận vẻ vang. Kinh hoàng vì số quân tử trận quá đông và hoảng loạn vì chủ soái đã chết, người Tartar bỏ Moravia và trốn chạy về Hungary để chỉnh đốn hòng tiếp tục các cuộc chiến hủy diệt của chúng.
Cuộc chiến thắng quân Tartar được tôn nhận là do sự hiện diện của Thánh Thể ở chiến trường – nhưng đây chỉ mới là một phần của phép lạ mà thành phố Olmütz tự hào mà thôi.
Sau cuộc chiến, khi đem các Bánh Thánh trả về nhà thờ, vị linh mục sững sờ khi thấy mỗi Bánh Thánh đều tỏa ra một hào quang màu hồng chung quanh. Khi ngài trình bày sự kiện này với cộng đoàn, mọi người đã chúc tụng Thiên Chúa toàn năng về cuộc vinh thắng và về dấu lạ chứng tỏ quyền năng và vinh quang của Người.


7 và 8. HAI PHÉP LẠ THÁNH THỂ TẠI REGENSBURG (NAM ĐỨC) 
Năm 1255 và 1257



Đã nhiều năm qua, tại thành phố Regensburg (trước kia có tên là Ratisbon) có hai nguyện đường mang tên Đấng Cứu Thế, và cả hai đều có những lịch sử kỳ diệu liên quan đến bí tích Thánh Thể.

1- Ngôi nguyện đường cổ xưa hơn được xây dựng vào năm 1255. Vào ngày 25 tháng 3 năm ấy, nhằm thứ Năm tuần Thánh, một linh mục tên là Dompfarer Ulrich von Dornberg theo lịch trình sẽ kiệu Thánh Thể cho các bệnh nhân trong giáo xứ. Khi đến một dòng suối nhỏ có tên là Bachgasse, vị linh mục cẩn thận bước lên miếng ván hẹp bắc qua dòng nước, nhưng ngài bị trượt chân và đánh rơi bình thánh đang mang theo. Các Bánh Thánh rơi ra khỏi bình và rớt trên bờ suối, khó khăn lắm vị linh mục mới nhặt hết lên được.
Khi hay tin, các bổn đạo trong xứ đã quyết định xây một nhà nguyện tại bờ suối, nơi các Bánh Thánh đã bị rơi bẩn để đền tạ sự bất kính đối với bí tích Thánh Thể – mặc dù sự cố xảy ra ngoài ý muốn. Việc xây dựng khởi công ngay hôm ấy và ngôi nguyện đường bằng gỗ đã được hoàn tất ba ngày sau, tức ngày 28 tháng 3. Đức giám mục Albert của giáo phận Regensburg đặt tên cho kiến trúc bằng gỗ nhỏ bé ấy là nguyện đường Đấng Cứu Thế và làm phép vào ngày 8 tháng 9 năm 1255. Phép lạ Regensburg đã xảy ra tại ngôi nguyện đường này hai năm sau đó.

Kể từ sau khi nhà nguyện được thánh hiến, các tín hữu Công Giáo kéo đến đông đảo kính viếng nhà nguyện. Có lẽ chính vì lòng đạo đức tôn kính Mình Thánh Chúa của các tín hữu Regensburg mà Đức Chúa GIÊSU Thánh Thể đã làm một phép lạ. 

2- Phép lạ xảy ra năm 1257 như dấu chứng khẳng định Đức Tin của các tín hữu Công Giáo đối với bí tích Tình Yêu Nhiệm Mầu. Câu chuyện diễn tiến như sau. 
Một Linh Mục đến dâng Thánh Lễ nơi nhà nguyện. Vào lúc đọc lời truyền phép rượu, vị Linh Mục bỗng đâm ra nghi ngờ. Ngài phân vân tự hỏi:
- Làm sao lời do người phàm đọc lại có sức nhiệm mầu biến đổi rượu thành Máu Thánh Đức Chúa GIÊSU KITÔ được?
Tâm hồn vị Linh Mục thật sự bị bấn loạn bởi tư tưởng gây hoang mang cho niềm tin tuyệt đối vào sự hiện diện đích thật của Đức Chúa GIÊSU Thánh Thể. 
Trong lúc do dự và không giơ cao Chén Thánh cho giáo dân thờ lạy thì vị Linh Mục bỗng nghe tiếng động nhẹ từ phía Cây Thánh Giá bên trên Nhà Tạm. Đôi tay của tượng Đức Chúa GIÊSU chịu đóng đanh từ từ tiến về phía vị Chủ Tế và giật lấy Chén Thánh giơ cao cho tín hữu thờ lạy Máu Thánh Chúa.
Trước phép lạ tỏ tường, vị Linh Mục liền quì sụp xuống. Niềm nghi nan giờ đây nhường chỗ cho nỗi lo âu kinh hoàng, cùng lúc nẩy sinh Đức Tin không lay chuyển. Vị Linh Mục khiêm tốn xưng thú lỗi lầm, công khai xin tha thứ và cảm động khóc ròng. Như dấu hiệu chứng nhận lòng thống hối và đức khiêm tốn của vị Linh Mục, Chúa GIÊSU Cứu Thế hạ đôi tay xuống và đặt Chén Thánh vào đôi tay vị Linh Mục. 
Kể từ sau phép lạ Thánh Thể, nhà nguyện trở thành nơi hành hương dấu ái của các tín hữu Công Giáo thành Regensburg cũng như của toàn nước Đức. Mỗi lần đến kính viếng nhà nguyện, các tín hữu thường quảng đại dâng cúng tiền bạc cũng như lễ vật. 


Vào năm 1267, một tu viện đã được xây dựng cạnh bên nguyện đường bằng đá. Tu viện này được trao cho các đan sĩ dòng thánh Augustine và được các vị soi sóc cho đến năm 1803. 
Lịch sử ngôi nguyện đường thứ hai mang tên Đấng Cứu Thế tại Regensburg khởi đầu vào năm 1476, khi một thiếu niên 13 tuổi đánh cắp một bình thánh đựng nhiều Bánh Thánh. Trong khi chạy xuống phố, cậu ta đã ném các Bánh Thánh vào một ngôi nhà. Khi tìm thấy các Bánh Thánh, người ta đã lượm lên hết sức cung kính và tổ chức nghi thức rước về nhà thờ chính tòa với sự hiện diện của đức cha Henry IV, giám mục giáo phận Regensburg.
Chủ nhân của ngôi nhà, nơi thiếu niên đã vứt bỏ Mình Thánh, rất kinh hoàng hãi sợ trước biến cố phạm thánh. Với sự trợ giúp của những người láng giềng, ông đã xây dựng một nhà nguyện trong năm ấy. Ngôi nguyện đường Chúa Cứu Thế này tọa lạc tại Weissen-Hahnen-Gasse, trong hẻm Gà Trống Trắng (White Rooster Alley).
Vào năm 1542, tức bốn năm trước khi Martin Luther qua đời, ngôi nguyện đường này đã bị những người Tin Lành tiếm dụng. Suốt nhiều thế kỷ qua, nó đã được dùng làm quán trọ.
Được biết có nhiều nghi thức và những cuộc rước kiệu truyền thống đã được tổ chức tại Regensburg để tôn kính Thánh Thể.

Năm 1620 chính quyền thành phố khởi công xây cất một thánh đường lớn bên cạnh nhà nguyện nhỏ và nhà nguyện nhỏ cũng được sửa lại bằng đá. Đức Giám Mục giáo phận giao cho các Tu Sĩ dòng Thánh Augustino trông coi nhà thờ và nhà nguyện. Các Tu Sĩ có nhiệm vụ lo phần Phụng Vụ, đọc kinh nguyện và phục vụ các tín hữu hành hương. Các vị chu toàn bổn phận cho đến năm 1803 là năm bị tục hóa. 
Đến năm 1838 nhà thờ bị hư hại rồi bị tàn phá bình địa. Nhưng nhà nguyện nhỏ nơi diễn ra Phép Lạ Thánh Thể vẫn tiếp tục kiên cố với thời gian. Nhà nguyện được tu sửa và được trang hoàng thật đẹp. 


Vào năm 1855, nguyện đường này xuống cấp và bị phá bỏ. Vì tiếc nuối sự mất mát, dân chúng lại xây dựng một nhà nguyện khác tại khu vực ấy. Tuy nhiên, trong thời kỳ Thế Chiến I, ngôi nguyện đường ấy đã bị tục hóa.
Ngày 18-9-1855 Đức Cha Valentino tái thánh hiến nhà nguyện. 
Ngày nay nhà nguyện có bị cũ đi, nhưng Cây Thánh Giá với tượng Đức Chúa GIÊSU KITÔ làm phép lạ vẫn còn đó như dấu chứng Đức Tin kiên vững của các tín hữu Công Giáo Đức. Họ thường xuyên đến kính viếng nhà nguyện và thờ lạy Đức Chúa GIÊSU KITÔ Thánh Thể ẩn náu trong Nhà Tạm. 


9. BOLSENA-ORVIETO, NƯỚC Ý
Năm 1263

Vào năm 1263, một vị linh mục người Đức là cha Peter thành Prague ghé lại Bolsena trên đường hành hương đến Rôma. Ngài có tiếng là một linh mục đạo đức, nhưng lại thấy khó tin việc Chúa Kitô thực sự hiện diện trong Thánh Thể. Lúc cử hành thánh lễ trên mồ thánh Christina (ngay trong nhà thờ mang tên của ngài), đang khi vị linh mục vừa đọc lời truyền phép, tức thì máu bắt đầu từ Bánh Thánh ứa ra và chảy lai láng trên bàn tay của vị linh mục, trên bàn thờ và khăn thánh.
Vị linh mục hết sức hoang mang. Lúc đầu, ngài định che giấu máu ấy, nhưng rồi ngài đã dừng ngang thánh lễ và xin được đưa đến thành phố Orvieto gần đó, nơi đức GH Urban IV đang cư ngự.
Đức Thánh Cha lắng nghe tự sự và xá tội cho vị linh mục. Ngài cũng gửi các đại diện xúc tiến cuộc điều tra lập tức. Khi mọi dữ kiện đã được xác minh, Đức Thánh Cha truyền cho đức giám mục giáo phận phải kiệu Bánh Thánh và khăn thánh đã dính các vệt máu về Orvieto. Cùng với các hồng y, tổng giám mục, và các bậc vị vọng khác trong Giáo Hội, Đức Thánh Cha ra tiếp đón đoàn rước, và bằng nghi lễ trang trọng, ngài đã đưa các thánh tích vào lưu giữ trong nhà thờ chính tòa. Tấm khăn thánh mang các vệt máu hiện nay vẫn được lưu giữ và trưng bày tại nhà thờ chính tòa giáo phận Orvieto.
Được biết nhờ phép lạ này soi động, đức Urban IV đã đặc ủy cho thánh Thomas Aquinas soạn bài lễ và bài kinh Thần Vụ để tôn kính Thánh Thể là Mình Thánh Chúa Kitô. Một năm sau phép lạ, vào tháng 8 năm 1264, đức Urban IV đã giới thiệu các công trình của thánh nhân, và bằng một bửu sắc, ngài đã thiết lập lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô.
Sau khi kính viếng nhà thờ chính tòa Orvieto, nhiều tín hữu hành hương và du khách đi đến nhà thờ thánh Christina tại Bolsena để tận mắt chiêm ngưỡng nơi phép lạ đã xảy ra. Từ cánh phía bắc của nhà thờ, ta có thể đi vào nguyện đường Phép Lạ, nơi có các vết máu trên sàn nhà thờ được biết là do máu thánh từ Bánh Thánh phép lạ. Bàn thờ phép lạ, phía trên có một bức trướng thế kỷ IX, hiện nay được đặt trong hang đá thánh Christina. Gần đó có một bức tượng của vị thánh.
Vào tháng 8 năm 1964, nhân dịp kỷ niệm 700 năm thiết lập lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô, đức Paul VI đã cử hành thánh lễ tại bàn thờ nơi tấm khăn thánh đang được lưu giữ trong một đài kính bằng vàng trong nhà thờ chính tòa Orvieto. (Đức Thánh Cha đã công du đến Orvieto bằng máy bay trực thăng; ngài là vị giáo hoàng đầu tiên trong lịch sử đã sử dụng phương tiện giao thông này).
Mười hai năm sau, cũng chính vị giáo hoàng này đã đến kính viếng Bolsena và phát biểu qua truyền hình trực tiếp đến đại hội Thánh Thể Thế Giới lần thứ bốn mươi mốt, khi ấy đang bế mạc tại thành phố Philadelphia. Trong bài diễn từ, đức Paul VI đã ca ngợi Thánh Thể là “… một mầu nhiệm cao cả và khôn thấu.”


10, 11- HAI PHÉP LẠ THÁNH THỂ Ở PARIS, PHÁP
NĂM 1274 VÀ 1290
 

1- Vào năm 1274, dưới thời vua Philip III, một tên trộm đã đánh cắp một chén thánh của nhà thờ thánh Gervais tại Paris và bí mật đem đến Champ du Landit gần tu viện thánh Denis. Tại đây, hắn mở chén thánh bằng vàng và đổ Bánh Thánh ra – nhưng khi chén thánh vừa mở ra, Bánh Thánh đã bay vọt lên và lơ lửng trên đầu hắn. Một số nông dân nhìn thấy Bánh Thánh lơ lửng trên đầu một Thanh niên đang hốt hoảng liền vội vàng đi thông báo cho cha Mathieu de Vendome, bề trên tu viện thánh Denis, và ngài đã thông tri cho đức giám mục Paris.
Cả cha bề trên và đức giám mục cùng với các vị chức sắc từ các nhà thờ lân cận vội vã đến Champ du Landit, tại đây, mọi người đều thấy Bánh Thánh lơ lửng trên không trung. Khi vị linh mục đã truyền phép Bánh Thánh ấy đến gần để xem xét sự kiện đang xảy ra, Bánh Thánh liền đậu xuống tay ngài trước mặt rất đông dân chúng. Nhiều người trong số này đã cùng với vị linh mục kiệu Bánh Thánh trở về nhà thờ, nơi đã bị đánh cắp. Bánh Thánh này trong tình trạng nguyên vẹn và đã biến mất trong một cuộc phá hoại chống Công Giáo trong thời Cách Mạng Pháp.
Sau phép lạ, đức giám mục ra lệnh cho nhà thờ thánh Gervais phải hát thánh thi vào mọi ngày thứ Sáu để tưởng nhớ, và tổ chức một buổi hát kinh Thần Vụ đặc biệt vào ngày mồng 1 tháng 9. Những nghi thức này đã được cử hành suốt nhiều năm cho đến khi Bánh Thánh biến mất.
2- Nhưng 16 năm sau đó, vào năm 1290, Paris lại được vinh dự có một phép lạ Thánh Thể còn nhãn tiền hơn nữa. Phép lạ thứ hai này liên hệ đến một người phụ nữ nghèo túng, không có một của gì đáng giá, ngoại trừ chiếc áo bà phải đi cầm để đổi một món tiền nhỏ sinh sống. Gần đến Chúa Nhật Phục Sinh, bà ước ao được ăn vận đàng hoàng để đi dự lễ, nhưng vì không có đủ tiền để chuộc lại chiếc áo, bà đã đến nhà người cầm đồ để xin mượn lại chiếc áo chỉ một ngày. Người cầm đồ là một kẻ ngoại đạo, tò mò về Bánh Thánh các tín hữu được lãnh nhận trong thánh lễ, đã đề nghị người phụ nữ sẽ được nhận lại chiếc áo mãi mãi nếu như đem đến cho ông tấm bánh đã được truyền phép mà vị linh mục sẽ trao cho bà khi hiệp lễ.
Đồng ý với lời đề nghị đáng hổ thẹn này, người phụ nữ nghèo đã đi dự thánh lễ và rước lễ. Sau khi lén lút lấy Bánh Thánh ra khỏi miệng, bà đã đem giao lại cho người cầm đồ. Ông này đã đặt Bánh Thánh trên một chiếc bàn. Và rồi, trước mặt người phụ nữ và các con của mình, ông rút một chiếc dao nhỏ và đâm túi bụi vào Bánh Thánh. Bỗng nhiên, dòng máu từ những vết đâm tuôn ra xối xả, bắn tung tóe vào người đàn bà và lũ trẻ. Kinh hãi trước hiện tượng máu chảy, người đàn ông ném Bánh Thánh vào lò lửa gần bên, nhưng Bánh Thánh bay lơ lửng trên ngọn lửa, không hề bị ngọn lửa hay sức nóng làm hại. Sau đó, vì rụng rời hốt hoảng, ông ta chộp lấy Bánh Thánh trên ngọn lửa và ra sức hủy diệt bằng cách thả vào một ấm nước sôi.
Nước lập tức đổi ra màu đỏ, giống như máu. Nước máu ấy trào ra khỏi chiếc ấm, lai láng xuống nền nhà và chảy ra ngoài đường, làm cho người qua lại phải chú ý.
Một người phụ nữ đứng bên ngoài thắc mắc sự tình đã đi vào trong nhà và được thị kiến Chúa Cứu Thế đang đứng trước ấm nước. Một lúc sau, thị kiến chấm dứt, nhưng bà lại thấy Bánh Thánh lơ lửng trên không. Khi Bánh Thánh từ từ hạ xuống, bà đã lấy một chiếc bình gần đó và đón Bánh Thánh vào chiếc bình. Sau đó, hết sức thận trọng cung kính, Bánh Thánh được đem đến nhà thờ thánh Jean-en-Grevè, nơi Bánh Thánh đã được gìn giữ như một kho tàng quí giá và được tôn vinh bằng nhiều nghi thức, nhất là vào ngày lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô.
Người ta kể lại trước cảnh tượng nước đỏ như máu, người cầm đồ kinh hoàng đã lẹ làng trốn vào một hố than, nhưng sau đó hắn ta đã bị bắt và kết tội phạm thánh.
Vua Philip IV (tức là vua Philip Công Bằng) và đức giám mục Paris được thông báo về phép lạ liền ngay sau đó, và sau cùng, ngôi nhà nơi phép lạ xảy ra đã được biến thánh một nguyện đường.
Vào năm 1444, biến cố lạ lùng này đã trở thành chủ đề của một vở kịch mang tựa đề Mầu Nhiệm Bánh Thánh. Vào năm 1533, vở kịch này lại được công diễn nhân dịp lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô.
Phép lạ phi thường này đã được cha Giry điều tra và tường trình trong cuốn sách của ngài có nhan đề Féte du Tres-Saint Sacrament (Ngày lễ Thánh Thể), trong đó, ngài đã cố kêu gọi các tín hữu Công Giáo hãy mừng các ngày lễ được thiết lập để ghi nhớ phép lạ này. Phép lạ cũng được đức cha Guerin, đổng lý văn phòng của đức Leo XIII điều tra. Đức cha Guerin kể lại các dữ kiện liên quan đến biến cố này trong cuốn Hạnh Các Thánh (Vies des Saints) của ngài và tuyên bố phép lạ ấy là chân xác.
Nguyện đường đền tạ được kiến thiết trong ngôi nhà phép lạ đã xảy ra về sau được thay thế bằng một nhà thờ lần lượt mang nhiều tên khác nhau: La Maison ou Dieu fut Bouilli (ngôi nhà nơi Thiên Chúa bị nấu), L’eglise du Sauveur Boullant (nhà thờ nơi Đấng Cứu Thế bị nấu), La Chapelle du Miracle (nguyện đường phép lạ) – và sau cùng, được gọi bằng hai danh hiệu: nhà thờ thánh Francis và đền thánh của dòng Billettes. Nhà thờ này được xây dựng vào thế kỷ XIV trên chính nơi phép lạ đã xảy ra, và được các tu huynh dòng Bác Ái xây dựng – được gọi là các thày Billettes vì họ mặc những áo vai nhỏ hình chữ nhật, làm người ta nghĩ đến những tờ truyền đơn.
Các tu sĩ dòng Kín Đức Mẹ núi Carmel đã thay thế các tu huynh dòng Bác Ái và hoàn tất công trình kiến thiết nhà thờ vào năm 1756, nhưng đến năm 1812, nhà thờ này lại thuộc quyền sở hữu của những người Tin Lành.
Nối liền với nhà thờ này là tu viện xây kiểu trung cổ của dòng Billettes, một tu viện đơn sơ duyên dáng được bảo tồn hoàn hảo và thường được các du khách đến viếng thăm.


12- PHÉP LẠ THÁNH THỂ Ở SLAVONICE, TIỆP KHẮC, NĂM 1280
Năm 1280


Phép lạ tại Slavonice được kể lại rất đơn sơ. Vào năm 1280, khi đang chăn dẫn đoàn vật trên các cánh đồng ngoại vi thành phố, một người du mục rất ngạc nhiên khi thấy một ngọn lửa kỳ lạ bốc cháy trên ngọn các bụi cây mọc trên đồi đá. Khi đến gần hiện trường, ông thấy bên trong ngọn lửa có một Bánh Thánh nguyên vẹn, không bị ngọn lửa và sức nóng làm hại. Vị linh mục được mời đến hiện trường đã nhận ra Bánh Thánh ấy là Bánh Thánh trong chiếc bình thánh quí giá đã bị đánh cắp vào đêm giao thừa năm trước. Tuy không tìm ra tội phạm, nhưng hiển nhiên hắn đã vứt bỏ Bánh Thánh tại chính nơi Bánh Thánh đã tỏ hiện này.
Cùng với các bổn đạo trong xứ vội vàng đến chứng kiến ngọn lửa kỳ lạ, sau đó vị linh mục đặt Bánh Thánh vào một chiếc bình đem theo, và trở về thành phố gần đó. Khi đến gần cổng thành, người ta nhận ra Bánh Thánh đã biến mất khỏi chiếc bình. Một lần nữa, họ lại thấy Bánh Thánh ở trên ngọn lửa trên đồi đá. Sau khi đón lấy Bánh Thánh, vị linh mục cùng các giáo hữu lại đi về thành phố. Nhưng Bánh Thánh lại biến mất một lần nữa.Chỉ sau khi vị linh mục và các giáo hữu hứa sẽ xây dựng một đền thành tại chính địa điểm phát hiện, Bánh Thánh mới ở lại trong bình thánh để trở về nhà thờ giáo xứ.
Lời hứa đã được tôn trọng, và chính trên đồi đá đã mọc lên một ngôi nguyện đường, nhưng chẳng bao lâu đã trở nên quá chật chội so với số tín hữu hành hương, kể cả từ những miền rất xa xôi, để tôn thờ Bánh Thánh kỳ diệu. Đức giám mục Dietrich của giáo phận OlmÜtz, và sau đó, đức giám mục Gregory của giáo phận Prague đã ban nhiều ân xá cho các tín hữu hành hương.
Nguyện đường này tiếp tục trở thành một nơi thu hút mạnh mẽ cho đến đầu thế kỷ XV, khi nhóm người theo bè Huss kéo đến gieo rắc sự hủy diệt và tà thuyết. Nguyện đường đặc ân bị phá hủy bình địa, mặc dù đồi đá nhỏ vẫn còn nguyên tại chỗ. 
Sau khi những người của bè Huss bỏ đi, một ngôi nguyện đường khác đã được tái thiết trên chính địa điểm ấy vào năm 1476. Nguyện đường này đã được đức giám mục giáo phận OlmÜtz làm phép và đặt tên là nhà thờ Mình Thánh Chúa Kitô. Như ngôi nguyện đường đầu tiên, ngôi nhà thờ này cũng trở nên quá nhỏ bé so với số tín hữu tiếp tục đến hành hương. Vì vậy, ngôi nhà thờ ấy lại được mở rộng và hoàn thành vào năm 1491, đó chính là ngôi nhà thờ còn tồn tại đến ngày nay. Sau đó, Đức Thánh Cha đã ban ơn toàn xá cho tất cả những ai sốt sắng kính viếng nhà thờ này và thành thực thống hối để lãnh nhận bí tích Thánh Thể. Được biết vì ơn toàn xá mà dòng người hành hương đông đúc đến độ cần phải có nhiều linh mục để cho những người muốn hưởng nhờ đặc ân rước lễ.
Một điểm hấp dẫn nữa của nhà thờ này là bàn thờ Ơn Thánh, được xây trên đồi đá chính xác ngay tại địa điểm ban đầu. Tại nơi đây, các thánh lễ vẫn đang được cử hành. Bàn thờ này ở phía trước bàn thờ chính một khoảng và nổi bật cả về vị trí lẫn cách trang trí. Trên bàn thờ ơn thánh là một bức tượng điêu khắc hai thiên thần đang thờ lạy một Bánh Thánh chung quanh có những ngọn lửa và tia sáng. Một bức phù điêu trong nhà thờ diễn tả cảnh người mục tử chỉ về hướng những ngọn lửa trên cánh đồng, trong khi một đoàn người, có cờ quạt dẫn đầu, từ nhà thờ giáo xứ tiến ra.
Hằng năm, ngày kỷ niệm tìm ra Bánh Thánh vẫn được tổ chức và gọi là Bauern Feuerfest, ngày Lễ Lửa của Người Miền Quê.


13- PHÉP LẠ THÁNH THỂ OFFIDA
Năm 1273
Máu Thánh tuôn trào lần thứ hai ở Lancianô , nước Ý


Phép lạ Thánh Thể tại Offida thực sự đã xảy ra ở thành phố Lanciano, địa điểm của phép lạ đầu tiên khoảng năm 700. Phép lạ thứ hai này - hiện nay đang được lưu giữ tại Offida cách Lanciano chừng 60 dặm về hướng bắc - không xảy ra với một linh mục hồ nghi như phép lạ thứ nhất; nhưng vì sự bất hòa của một gia đình bất hạnh.
Một người phụ nữ tên là Ricciarella, vợ của ông Giacomo Stasio, hết sức đau khổ vì cuộc hôn nhân bất hạnh, đã cố gắng hết khả năng để chiếm lại tình yêu của chồng. Cuối cùng, một mụ phù thủy đã mách cho Ricciarella cách thế để đạt được tình yêu của chồng. Mụ ta khuyên Ricciarella "đi rước lễ, và đưa Bánh Thánh về nhà bếp, rồi hâm nóng trên lửa cho đến khi lấy được chất bột. Bà phải trộn chất bột này vào thức ăn hoặc thức uống của chồng, và thế nào ông này cũng sẽ yêu thương bà".
Trong cơn tuyệt vọng vì hoàn cảnh u uất, Ricciarella đã đi dự thánh lễ, rước lễ, và lén lút nhả Bánh Thánh từ miệng vào vạt áo. Sau khi đưa về nhà, Ricciarella đặt Bánh Thánh lên một miếng ngói hình bán nguyệt, giống như thứ ngói vẫn được lợp ở trên nóc hoặc ở mép mái nhà. Sau đó, bà đặt miếng ngói lên ngọn lửa. Ngay khi Bánh Thánh được đốt nóng, thay vì hóa thành bột, Bánh Thánh lại biến thành một miếng thịt đầy máu. Kinh hoàng trước sự kiện xảy ra, Ricciarella dừng ngay công việc rồi đổ tro và sáp lỏng lên miếng ngói, nhưng không thành công. Miếng ngói dính đầy máu, nhưng thịt vẫn còn y nguyên.
Cuống quít tìm cách loại bỏ chứng cứ tội phạm thánh của mình, Ricciarella lấy một tấm khăn bàn bằng nỉ có thêu lụa và ren gói miếng ngói và Bánh Thánh đẫm máu lại. Mang tất cả ra ngoài, bà đi đến chuồng ngựa và chôn ngay bên dưới hố rác của gia đình và đống phân chuồng gia súc.
Chiều tối hôm ấy, khi người chồng là Giacomo đưa ngựa vào gần đến chuồng, con vật không chịu vào. Trái với tính thuần thục bình thường, con vật cứ ngang ngạnh, mặc dù bị chủ đánh đập dã man. Sau cùng, con ngựa cũng chịu, nhưng thay vì đi vào phía trước, nó đã đi vào cửa bên cạnh, hướng đầu về phía đống rác, và sau cùng đã quì gối xuống. Giacomo nổi điên lên trước cảnh tượng ấy và kết tội vợ đã bỏ bùa vào chuồng làm cho con vật sợ hãi không dám vào. Ricciarella dĩ nhiên chối phăng tất cả và không dám hé môi về nguyên nhân của sự khó.
Năm 1280, sau bảy năm trời, Thánh Thể vẫn bị chôn bên dưới đống rác, và trong quãng thời gian ấy, những súc vật vẫn chỉ ra vào bằng cổng bên cạnh, và tỏ dấu cung kính về phía đống rác.
Thay vì được bình an như cố công tìm kiếm đến nỗi phạm sự thánh, thì ngược lại, suốt ngày thâu đêm, lúc nào Ricciarella cũng bị dày vò hối hận vì tội lỗi. Sau cùng, bà quyết định đi xưng thú những gì đã làm với một linh mục thuộc tu viện thánh Agostino tại Lanciano là cha Giacomo Diotallevi, quê ở Offida.
Quì gối xưng tội, nhưng Ricciarella nghẹn lời vì quá thổn thức, cho dù được cha giải tội khích lệ đừng sợ hãi và hãy an tâm. Sau cùng, vẫn không sao thú được tội phạm thánh, bà xin cha giải tội giúp đỡ, và ngài đã lần lượt kể ra nhiều thứ tội khác nhau. Kể đến thứ tội cuối cùng mà vẫn chưa thấy Ricciarella thú nhận một tội nào, cha Giacomo đành nói, “Tôi đã kể cho chị tất cả những giống tội có thể phạm. Tôi không biết tội chị là tội gì, trừ phi chị giết Đức Chúa Trời.”
Ricciarella trả lời, “Đó chính là tội của con! Con đã giết Đức Chúa Trời!” Sau đó Ricciarella đã kể lại đầu đuôi tội phạm sự thánh của mình.
Quá kinh ngạc trước những điều sau cùng mới được kể ra, cha Giacomo ban phép xá giải cho Ricciarella, khích lệ bà hãy an lòng, và cấp tốc lo liệu để đưa Thánh Thể ra khỏi đống rác.
Sau khi mặc phẩm phục xứng đáng, cha đến chỗ chuồng vật, bất chấp bệnh tật, và bắt đầu bới tung đống rác đầy phân bớn. Trước sự ngỡ ngàng, cha phát hiện ra mảnh ngói, Bánh Thánh đẫm máu, và chiếc khăn bàn, tất cả không hề bị vấy bẩn và trông như vừa mới bị chôn xuống. Cha Giacomo sau đó đưa miếng ngói, Bánh Thánh, và chiếc khăn về tu viện của ngài.
Sau đó vài ngày, khi đã được phép của bề trên, cha Giacomo đi về Offida, quê hương của ngài, và kể lại phép lạ với cha Michele Mallicano và nhiều vị chức sắc danh tiếng của thành phố. Mọi người đồng ý Bánh Thánh phải được tôn thờ xứng đáng và phải đặt một bình đựng đặc biệt để lưu giữ. Một số lượng bạc rất nhiều đã được dâng cúng để làm bình đựng. Sau đó, các vị cũng quyết định ủy thác cho các nghệ nhân tại Venice trách nhiệm làm một bình đựng có hình thánh giá thật nghệ thuật để lưu giữ Bánh Thánh phép lạ, và cả một mảnh gỗ từ thánh giá của Chúa Kitô.
Cha Michele cùng một linh mục khác đưa Bánh Thánh đựng trong một chén thánh đến Venice. Tại đây, ngài giao cho một nghệ nhân kim hoàn chế tạo một bình đựng đặc biệt và đòi ông phải thề giữ bí mật về việc này. Khi vừa nhận chén thánh đựng Bánh Thánh, nghệ nhân đã phát một cơn sốt kịch liệt. Ông ta đang sống trong tình trạng tội trọng. Nhưng sau khi ông xưng tội, cơn sốt đã bớt hẳn.
Khi làm xong bình đựng hình thánh giá, nghệ nhân đặt mảnh gỗ thánh giá thật và Bánh Thánh phép lạ vào những hộp pha lê riêng biệt rồi trao bình đựng cho hai linh mục, và các ngài lập tức rời Venice về Offida. Tuy nhiên, nghệ nhân kim hoàn này đã không giữ lời thề, ông đem kể mọi sự với tổng trấn thành Venice, đề nghị lấy lại bình đựng hình thánh giá và những báu tàng bên trong của hai vị linh mục để lưu giữ tại Venice. Viên tổng trấn đồng ý và phái một con tàu chặn đường hai vị linh mục. Nhưng một cơn bão nổi lên chặn đứng chuyến thủy trình, và nỗ lực ấy đành phải hủy bỏ.
Khi hai vị linh mục đến Ancona, các thương nhân Venice kể cho các ngài biết ý định của tổng trấn và cuộc thoát khỏi kỳ diệu của các ngài. Được Thiên Chúa che chở không ngừng, hai vị linh mục đã bình an về đến Offida cùng với thánh giá quí báu của họ.
Trong thời gian những biến cố này xảy ra, tất cả đều được ghi chép vào giấy da, nhưng không may, hiện nay chưa tìm lại được. Tuy nhiên, bản chính thức do viên lục sự Giovanni Battista Doria thực hiện, đề ngày 18 tháng 4 năm 1788, hiện nay vẫn còn được lưu giữ.
Phía trên bàn thờ chính của đền thánh thánh Augustine tại Offida, còn gọi là đền thánh Thánh Thể Phép Lạ, người ta thấy một thánh đài rất nghệ thuật đựng thánh giá bằng bạc bên trong có chứa Thánh Thể phép lạ. Viên ngói Ricciarella dùng để đốt nóng Bánh Thánh hiện vẫn còn dấu nám và những vệt máu, được giữ trong một chiếc hộp hình chữ nhật bằng kính. Tấm khăn bọc miếng ngói và Bánh Thánh đẫm máu cũng được đặt trong hộp kính. Các bức họa vẽ lại những diễn tiến của phép lạ được trưng bày trong nhà thờ.


14. MÌNH THÁNH CHẢY MÁU KHI BỊ XÚC PHẠM
Năm 1290

Thời vua Philippe le Bel cai trị nước Pháp (1285-1314), năm 1290, có một bà nghèo mà đạo đức tốt. Bà phải đem cầm chiếc áo cho một người Do Thái. Ðến gần lễ Phục Sinh bà đến mượn lại chiếc áo đi dự lễ như người ta. Người chủ cho thuê đồng ý trả lại chiếc áo không lấy tiền vốn và lời với điều kiện buộc bà là chịu lễ xong phải nhả Mình Thánh ra và đem về cho anh ta. Bà bắt chước Giuđa bán Chúa Giêsu. Ép buộc nghe lời, bà nhả Mình Thánh vào khăn đem về cho tên kia. Nó để Mình Thánh trên bàn lấy dao nhọn đâm nhiều lát. Máu trong Mình Thánh chảy ra. Vợ nó cảm động nhưng nó vẫn chai đá, lấy búa và đinh đóng đinh Chúa Giêsu. Máu Chúa tiếp tục chảy lai láng. Nó đem Mình Thánh vào lửa đốt, song Mình Thánh bay lên khỏi lửa. Nó lại lấy Mình Thánh bỏ vào chảo nước sôi, nước trong chảo trở ra đỏ như máu và Mình Thánh bay lên cao biến thành hình Chúa Giêsu Chịu Nạn. Khi thấy dân chúng còn kéo nhau đến nhà thờ, thì đứa con của anh Do Thái chạy lại báo cho giáo dân hay là ''ba tôi đã giết Chúa của qúi vị rồi''. Nghe vậy, một bà giả bộ vào nhà nó xin lửa, thì bà thấy mọi sự y như vậy và thấy Ảnh Chuộc Tội còn trên không. Rồi Ảnh này biến thành bánh trắng như trước và đến ngự vào chiếc hộp nhỏ bà đang có đựng trong tay. Bà này đã đem nộp hộp có Mình Thánh cho cha sở Saint Jean en Grève để thờ kính trong nhà thờ cho tới khi chiến tranh tràn tới. 
Ðức Giám Mục Paris gọi anh Do Thái kia lại khuyên ăn năn trở lại, nhưng nó không chịu, ngài mới trao nộp cho quan. Quan bèn cho thiêu sống. Vợ con và một số bạn bè đã trở lại. Còn khu nhà đó đã phá đi và xây một nhà thờ.


15. 
TỘI BẤT KÍNH VỚI MÌNH THÁNH, CẦU BỊ SỤP

Năm 1277, cha xứ ở Maestrich, nước Pays-Bas đem Mình Thánh cho kẻ liệt, đi ngang qua cầu sông Meuse, gặp lũ trẻ đang nô giỡn nhảy múa trên cầu, mà không có đứa nào qùi lạy hay tỏ vẻ cung kính. 
Khi cha vừa đi qua khỏi cầu, tự nhiên cầu lún xuống xập ngay, làm đông trẻ em trên cầu chết hết. 
Ðược biết xưa kia, mỗi khi linh mục đem Mình Thánh cho kẻ liệt, thường có vài giáo dân đi theo, như đám rước nhỏ, Để ai thấy mà tôn kính.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn cần trở thành thành viên của nhóm để có thể bình luận bài viết này. Nhấn vào đây để đăng ký làm thành viên nhóm!
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây